vanban.org

Bản án 327/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 09/11/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/11/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Anh T. Giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm về hình phạt.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng: Khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Anh T. Giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm về hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 327/2017/HSPT
Ngày: 09/11/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai

Các Thẩm phán:

Ông Tô Phú Đông

Ông Ngô Tấn Lợi

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuấn Em – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Bảy - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 290/2017/HSPT ngày 20 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Anh T.

Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2017/HSST ngày 13 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân thị xã H.

Bị cáo có kháng cáo:

NGUYỄN ANH T

- Sinh năm 1997;

- HKTT và chỗ ở: khóm A, phường An T1, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp;

- Nghề nghiệp: Không;

- Trình độ học vấn: 5/12;

- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

- Con ông Hồ Trung H1, sinh năm 1977 và con bà Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1971;

- Gia đình có bốn anh em, bị cáo là con thứ ba;

- Vợ, con: Chưa có;

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Tạm giữ: Ngày 09/5/2017;

- Tạm giam: Ngày 18/5/2017;

- Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp (Có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra, trong vụ án ng i b h i, ng i có quy n l i, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng ngh .

NHẬN THẤY:

Theo cáo tr ng c a Viện kiểm sát nhân dân th xã H và b n án hình s s thẩm c a Tòa án nhân dân th xã H thì nội dung vụ án đ c tóm t t nh sau:

Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 10/3/2017, Nguyễn Anh T và Lâm Nhựt P (X) tổ chức uống bia tại gần ngã tư giao nhau giữa đường B và đường C thuộc khóm A, phường An T1, thị xã H. Trong lúc uống bia Lâm Nhựt P nhìn thấy Lương Thái D chạy xe ngang qua, P điều khiển xe mô tô chạy theo rủ D quay lại uống bia. Khoảng 30 phút sau có xe mô tô chạy rẽ vào chỗ T và P đang ngồi, P nhầm tưởng là xe của D nên P kêu “Ê” nhưng kêu hơi lớn tiếng. Lúc này Bùi Văn Q (là người điều khiển xe mô tô) dừng xe lại cãi vã với T và P, hai bên dùng những lời lẽ thô tục cự cãi nhau. Sau đó Q chạy xe đi, T nghĩ là chốc lát Q sẽ quay lại đánh nhau, nên T lén đi về nhà bà Huỳnh Thị L (ngoại ruột T) lấy một con dao và cất giấu để khi nào có đánh nhau sẽ sử dụng.

Sau khi đi được 10 phút Quí quay lại cùng với anh ruột là Bùi Văn P1 (Y), khi đi lại chỗ của T và P (X) trên tay của Bùi Văn P có cầm một đoạn tuýp sắt màu trắng, Bùi Văn Q cầm theo một con dao tự chế. Khi thấy Q và Bùi Văn P1 đến T và P (X) đứng dậy, Bùi Văn P dùng ống tuýp sắt đánh vào đầu T một cái, P (X) nhặt một khúc cây gỗ (trước nhà của bà Nguyễn Thị N) ném trúng đầu Bùi Văn P1 rồi bỏ chạy, Bùi Văn P1 đuổi theo để đánh P (X). Khi Bùi Văn P đuổi đánh Lâm Nhựt P (X), còn lại Q và T đang thủ thế đánh nhau, Q cầm dao trên tay, T thấy vậy chạy lại chỗ để con dao mà trước đó T đã giấu, rồi quay lại đánh nhau với Q, Q trượt chân ngã xuống đất, T cầm dao bên tay phải chém từ trên xuống vào người của Q, lúc này Bùi Văn P1 chạy đến đưa tay trái lên đỡ nên trúng vào tay gây thương tích. Bùi Văn P1 được anh Lê Tấn P2 và Lương Thái D chở đến bệnh viện Đa khoa khu vực Hồng Ngự cấp cứu. Khi chém Bùi Văn P1 xong T cầm con dao bỏ chạy theo hướng chợ cũ và ném con dao xuống sông và bỏ trốn lên thành phố Hồ Chí Minh đến ngày 09/5/2017 ra đầu thú.

*Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 104/TgT-TTPY ngày 05/4/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp kết luận tỷ lệ thương tật đối với anh Bùi Văn P1 như sau:

- Vết thương phần mềm giữa đỉnh đầu lành (TLTT 01%);

- Sẹo vết thương phần mềm cổ tay trái gây đứt lìa cổ tay trái đã được khâu nối gân, cơ, thần kinh trụ, thần kinh giữa và hệ thống tĩnh mạch cổ tay trái (TLTT 52%);

- Gãy đầu dưới xương quay trái đã được kết hợp xương (TLTT 11%).

Tổn thương trên do vật có cạnh sắc nhọn gây ra.

Tổng tỷ lệ thương tật 58%, theo phương pháp cộng lùi tại thời điểm giám định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo bồi thường cho người bị hại 10.000.000đ, người bị hại không có yêu cầu gì thêm phần dân sự đối với bị cáo.

Vật chứng trong vụ án: Sau khi vụ án xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được cây dao gây án.

T i b n án hình s s thẩm số: 29/2017/HSST ngày 13/9/2017 c a Tòa án nhân dân th xã H đã quyết đ nh:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh T 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 09/5/2017).

Ngoài ra, án s thẩm còn tuyên v án phí và quy n kháng cáo theo luật đ nh.

Ngày 18 tháng 9 năm 2017, bị cáo Nguyễn Anh T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Đồng Tháp đề nghị: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Anh T, giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm về hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, lời khai bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY:

Bị cáo Nguyễn Anh T cùng với bạn là Lâm Nhựt P uống bia tại gần ngã tư giao nhau đường B thuộc khóm A, phường An T1. Nhưng trong lúc uống bia lại mâu thuẫn nhỏ nhặt với Bùi Văn Q (là em ruột người bị hại), bị cáo nhầm tưởng Q là bạn đang chạy xe ngoài đường nên kêu lớn tiếng. Từ đó dẫn đến hai bên mâu thuẫn cự cãi và thách đố đánh nhau. Đáng lý ra cả hai bên phải biết bỏ qua cho nhau, nếu không thì báo cho Công an đến giải quyết sự việc. Bị cáo lại về nhà bà Huỳnh Thị L (là bà ngoại) cách 500 mét lấy con dao yếm để khi nào Q đến có đánh nhau thì đem ra sử dụng. Còn người bị hại cũng bênh cho em ruột đem hung khí đến quán để hai bên đánh nhau là vi phạm pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, khi thấy bị hại có dao không chạy vào quán. Bị cáo chạy lại chỗ để con dao yếm và khi lấy dao chạy lại thấy Q trượt chân ngã ngửa dưới đất. Bị cáo không buông tha mà vẫn cầm dao tay phải chém mạnh từ trên xuống vào người của Bùi Văn Q. Nếu không có Bùi Văn P1 (người bị hại) chạy đến đưa tay trái lên đỡ thì Q cũng không bảo toàn được tính mạng. Vì nhát dao bị cáo chém rất mạnh gây ra cho người bị hại vết thương đỉnh đầu, cổ tay trái gây đứt lìa cổ tay trái, gãy đầu dưới xương quay trái, tổng tỷ lệ thương tật 58%. Trong khi bị cáo nhận thức được tính mạng, sức khỏe con người được pháp luật bảo vệ. Nhưng bị cáo vẫn cố ý gây thương tích làm cho người bị hại ảnh hưởng sức khỏe không lao động nặng được và ảnh hưởng trong cuộc sống. Sau khi phạm tội bị cáo ném bỏ hung khí xuống sông và bỏ trốn lên TP. Hồ Chí Minh một thời gian dài mới ra đầu thú. Ngoài ra hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự ở địa phương tại trung tâm TX H. Chứng tỏ bị cáo là người xem thường pháp luật Nhà nước. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần có thời gian cải tạo nghiêm khắc để bị cáo từ bỏ con đường phạm tội trở thành công dân tốt, giúp ích cho bản thân và xã hội.

Án sơ thẩm xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Sau khi án sơ thẩm xử bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho rằng mức án cao là không có căn cứ để xem xét. Ngoài ra bị cáo cũng không xuất trình được các tình tiết mới ngoài các tình tiết mà án sơ thẩm đã xem xét. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt, là phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Anh T. Giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm về hình phạt.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh T 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/5/2017.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Anh T phải nộp 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TTM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ