vanban.org

Bản án 326/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tú A được ly hôn với anh Nguyễn Kiều N. Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Nhật H, sinh ngày 13/3/2011 và Nguyễn Khả V, sinh ngày 30/10/2014 giao cho chị Nguyễn Thị Tú A nuôi dưỡng đến khi thành niên, anh Nguyễn Kiều N không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYỄN THỊ TÚ A"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 326/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 30-7-2026
V/v “tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Khúc Thị Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Huỳnh Thị Mỹ Nhung

2. Bà Nguyễn Ánh Nguyệt

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Đoàn Thị Tùng Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 387/2026/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2026 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1482/2026/QĐXXST- HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số: 619/2026/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tú A, sinh năm 1989, đề nghị vắng mặt

- Bị đơn: Ông Nguyễn Kiều N, sinh năm 1988, vắng mặt lần thứ 2 không lý do

Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn trình bày và yêu cầu như sau:

Chị Nguyễn Thị Tú A và anh Nguyễn Kiều N tiến đến hôn nhân qua mai mối và tìm hiểu khoảng 02 tháng, sau đó tự nguyện tiến đến hôn nhân và tổ chức lễ cưới năm 2009, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ (cũ) vào ngày 17/11/2017. C sống đến khoảng tháng 01 năm 2024 phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân khoảng tháng 02 năm 2024 đến nay. Nguyên nhân do anh N không chăm lo gia đình, kinh tế gia đình không phụ tiếp chị và đến lúc chị bệnh cũng không quan tâm. Trong thời gian sống ly thân chị về mẹ ruột, mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai cũng không chủ động hàn gắn tình cảm.

Xác định tình cảm đối với anh N không còn nên xin ly hôn.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Nhật H, sinh ngày 13/3/2011 và Nguyễn Khả V, sinh ngày 30/10/2014. Khi ly hôn yêu cầu nuôi dưỡng 02 con chung đến khi thành niên và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, riêng, nợ: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Đề nghị vắng mặt trong các giai đoạn tố tụng tại các cấp Toà án và đối chất (nếu có).

Bị đơn quá trình giải quyết dù đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Để giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Tú A và anh Nguyễn Kiều N. Tại biên bản xác minh ngày 12/5/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Cần Thơ, địa phương cho biết chị Tú A và anh N là vợ chồng. Quá trình chung sống có 02 con chung tên Nguyễn Nhật H và Nguyễn Khả V. Về mâu thuẫn dẫn đến ly hôn không rõ. Về tài sản và nợ thì không rõ. Anh N vẫn còn đăng ký thường trú tại ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ, hiện nay vắng nhà nhưng có về địa phương.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Về thủ tục tố tụng: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tú A được ly hôn với anh Nguyễn Kiều N; Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Nhật H, sinh ngày 13/3/2011 và Nguyễn Khả V, sinh ngày 30/10/2014 giao cho chị Nguyễn Thị Tú A nuôi dưỡng đến khi thành niên anh Nguyễn Kiều N không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, riêng và nợ chung: Không xem xét giải quyết do đương sự không yêu cầu.

Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa:

[1] Về tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn có nơi cư trú tại: ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Cần Thơ theo quy định tại Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tú A có đơn đề nghị vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Kiều N vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không lý do. Căn cứ Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Tú A và anh Nguyễn Kiều N là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Về nguyên nhân dẫn đến ly hôn chị Tú A cho rằng anh Kiều N không quan tâm chăm lo gia đình. Quá trình giải quyết Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Kiều N nhiều lần để tham gia tố tụng về yêu cầu xin ly hôn của chị Tú A, nhưng đều vắng mặt và không có ý kiến. Xét thấy, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và có nghĩa vụ sống chung với nhau nhưng đời sống cả hai đã trầm trọng, cuộc sống chung đã không còn tồn tại vì đã sống ly thân đến nay không hàn gắn được. Cho thấy mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị Nguyễn Thị Tú A được ly hôn với anh Nguyễn Kiều N.

Về con chung: Theo lời khai của chị Tú A và kết quả xác minh của Tòa án, anh chị có 02 con chung tên Nguyễn Nhật H, sinh ngày 13/3/2011 và Nguyễn Khả V, sinh ngày 30/10/2014. Khi ly hôn chị Tú A yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung đến khi thành niên và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Nguyện vọng của 02 con chung cũng mong muốn được sống chung với chị Tú A. Nên cần thiết giao 02 con chung cho chị Tú A tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, riêng và nợ: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định.

Lời phát biểu của kiểm sát viên về phần thủ tục tố tụng, cũng như đề xuất ý kiến về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định và quyết định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 207, 227, 228, Điều 235, 238, 254, 262, 264, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 51, 53, 56, 57, 59, 69, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tú A được ly hôn với anh Nguyễn Kiều N.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Nhật H, sinh ngày 13/3/2011 và Nguyễn Khả V, sinh ngày 30/10/2014 giao cho chị Nguyễn Thị Tú A nuôi dưỡng đến khi thành niên, anh Nguyễn Kiều N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho anh Nguyễn Kiều N, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung các đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung, riêng và nợ: Đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tú A phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được chuyển từ số tiền tạm nộp án phí sang án phí đã nộp theo biên lai số 0007913 ngày 23/4/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.

Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 36 và Điều 72 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành án Dân sự”.

Cỡ chữ