vanban.org

Bản án 326/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 24/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2/. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế M 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Thế M cho UBND xã Nghĩa L, huyện Nghĩa H, tỉnh Nam Địn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế Mạnh - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀNG MAI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 326/2024/HS - ST
Ngày: 24 tháng 12 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Bà Hoàng Thị T

Các Hội thẩm nhân dân

Bà Bùi Thị Bích V

Bà Trần Thị Kim D

Thư ký ghi biên bản phiên tòa

Bà Hoàng Thị Bích H

Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai – Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai tham gia phiên tòa:

Bà Đỗ Thị H - Kiểm sát viên.

Ngày 24/12/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 307/2024/HSST ngày 27/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 340/2024/QĐXXST-HS ngày 10/12/2024, đối với bị cáo có lý lịch như sau:

Họ và tên: NGUYỄN THẾ M , sinh năm 2000.

Nơi thường trú: Xóm Đồng Q, xã Nghĩa L, huyện Nghĩa H, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn M T; Con bà: Nguyễn Thị X; Tiền án, Tiền sự: Không.

Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên toà).

Người bị hại:

Anh Nguyễn M S , sinh năm 1993; Địa chỉ: Xóm Duy T, xã Giao T, huyện Giao T, tỉnh Nam Đ (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do thiếu tiền chi tiêu cá nhân nên Nguyễn Thế M nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 15/10/2024, Nguyễn Thế M thấy trong nhà để xe nơi M thuê trọ ở số 2 ngách 18/27 Định Công Thượng, phường Định Công, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, có 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu BKS: 29S4 – 8633, số khung: C100M – 8242282, số máy: C100ME – 8242282, của anh Nguyễn M S (sinh năm: 1993; HKTT: Xóm Duy Tắc Tây, xã Giao Tân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định), không có ai trông giữ nên M đã nảy sinh ý định trộm cắp mang bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. M đeo kín khẩu trang, đứng bên ngoài nhà để xe, không tự mở cửa vào mà chờ có người mở cửa sẽ vào, khi thấy anh Nguyễn Minh Q (sinh năm: 2004; Chỗ ở: số 2A ngách 18/27 Định Công Thượng, phường Định Công, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội) đi về thì M đi theo vào sau đó đợi có người tiếp tục về và mở cửa thì M dắt chiếc xe nhãn hiệu Honda Dream màu nâu BKS: 29S4-6833 ra. M dắt bộ chiếc xe máy ra khỏi nhà số 2 ngách 18/27 Định Công Thượng để tìm nơi phá khóa nổ máy, trên đường đi M có gặp một người xe ôm, M hỏi nơi mở khóa điện xe máy nhưng người đó không biết, M nhờ người này dùng xe máy đẩy M cùng chiếc xe máy BKS: 29S4 – 6833 đến khu vực Công viên Linh Đàm, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội thì dừng lại, sau đó M tiếp tục dắt xe máy thì bị tổ công tác C2D2 – PK02E – CATP Hà Nội làm nhiệm vụ kiểm tra, thu giữ vật chứng và đưa về trụ sở làm việc.

Vật chứng thu giữ:

- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu BKS: 29S4 – 8633, số khung: C100M – 8242282, số máy: C100ME – 8242282, đã qua sử dụng;

- 01 USB bên trong có video hình ảnh liên quan (được lưu tại hồ sơ vụ án).

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thế M khai nhận hành vi phạm tội như nội dung trên, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Kết luận định giá tài sản số 260/KL–HĐĐGTS ngày 05/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hoàng Mai kết luận: 01 Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu BKS: 29S4 – 8633, số khung: C100M – 8242282, số máy: C100ME – 8242282 đã qua sử dụng trị giá 11.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, anh Nguyễn M S (người bị hại) khai: Ngày 12/10/2024 anh Sơn có để chiếc xe máy BKS: 29S4 – 8633 của mình tại nhà trọ số 2 ngách 27/18 Định Công Thượng, Định công, Hoàng Mai, Hà Nội. Đến 23 giờ 00 phút ngày 15/10/2024, anh Sơn có nhận được thông tin về việc chiếc xe máy của mình bị mất trộm. Ngày 14/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 6979, trao trả chiếc xe máy trên cho anh Sơn. Anh Sơn đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì khác.

Cáo trạng số 314/CT-VKSHM ngày 21/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai đã truy tố bị cáo Nguyễn Thế M về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo M thừa nhận việc bị truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX được cải tạo ngoài xã hội để có cơ hội sửa chữa sai lầm, khuyết điểm của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như cáo trạng đã nêu. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế M từ 10 đến 14 tháng tù về nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 20 đến 28 tháng kể từ ngày tuyên án về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt tiền.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Nguyễn M S đã nhận lại tài sản bị cáo chiếm đoạt, không có yêu cầu đề nghị gì khác đối với bị cáo nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng.

Các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo nhận tội, không người tham gia tố tụng nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.

Về tội danh và hình phạt:

Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng. Qua xét hỏi và tranh luận bị cáo khai nhận hành vi phạm tội hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, kết luận giám định, phù hợp với tang vật, vật chứng thu giữ, và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 15/10/2024, tại số 2 ngách 18/27 Định Công T, phường Định C, quận Hoàng M, thành phố Hà Nội, bị cáo Nguyễn Thế M đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu BKS: 29S4 – 8633, số khung: C100M – 8242282, số máy: C100ME – 8242282 của anh Nguyễn M S , tài sản trị giá 11.000.000đồng. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo để xét xử theo tội danh đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người trưởng thành có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý, do vậy cần phải xử lý bằng pháp luật hình sự mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo phòng ngừa chung cho xã hội.

- Các tình tiết giảm, tăng nặng nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi và trao trả cho bị hại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt: Sau khi đánh giá tính chất mức độ của hành vi phạm tội, căn cứ vào nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, hành vi phạm tội của bị cáo là lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho người bị hại. Do vậy có thể áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và không gây nguy hại cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Nguyễn M S đã nhận lại tài sản bị cáo chiếm đoạt, không có đề nghị, yêu cầu gì khác đối với bị cáo nên không xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1/. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2/. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế M 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thế M cho UBND xã Nghĩa L, huyện Nghĩa H, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Nghĩa trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3/. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thế M phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4/. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ