- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thanh T, LDCDTS - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Thanh T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 36 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 326/2023/HS-ST Ngày 27/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Quang Long
Các Hội thẩm nhân dân: 1 - Bà Nguyễn Thị Thanh Hường
2 - Bà Phạm Thị Mai Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thụ, Thẩm tra viên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham
gia phiên tòa: Bà Hoàng Minh Ngọc, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm,
thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 339/2023/TLST, ngày 09 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 344/2023 ngày 13/11/2023 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Thanh T, sinh năm 2000. Giới tính: Nam. Nơi ĐKHKTT: Số X,
phường K, quận Đ, thành phố H. Nơi cư trú: P, đường H, phường T, quận C, thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Sinh viên. Bố Vũ Hoài N (đã chết). Mẹ Tạ Thu T2. Vợ con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Tại
ngoại, có mặt tại phiên toà.
Người bị hại: Anh Bùi Thanh T1, sinh năm 1993; Nơi thường trú: Xóm X, xã
T, huyện N, tỉnh N. Nơi ở hiện tại: Số N, thị trấn T, huyện G, thành phố H. Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Vũ Thanh T hiện đang là sinh viên đại học. Quá trình học tập, T có vay tiền bạn
để chi tiêu nhưng do chưa có điều kiện trả nên T nảy sinh ý định lừa đảo những người làm nghề shipper (giao hàng thuê) để lấy tiền trả nợ. Do từng bán hàng online mặt hàng quần áo, giầy dép đồ hiệu nên T có kinh nghiệm đăng bài bán hàng quần áo trên mạng xã hội Facebook và còn lưu Facbook của những khách hàng cũ. T sử dụng Facebook mang tên “T” đăng ký bằng số điện thoại 0913234234 nhắn tin cho khách mua hàng mời mua quần áo hàng hiệu và sử dụng tài khoản Facebook khác có tên là “H” để thuê shipper giao hàng (nhằm tránh bị người ship hàng phát hiện). Sau khi có khách đặt mua, T đóng gói sản phẩm không đúng với sản phẩm đã đăng và có giá trị thấp, mục đích để khi nhận hàng kiểm tra thấy không đúng sản phẩm, khách sẽ không mua hàng và người ship sẽ phải liên hệ với T để trả hàng, khi đó T sẽ cắt mọi liên lạc với khách hàng và người ship để chiếm đoạt tiền mà người ship đã ứng trước cho T.
Khoảng 09 giờ, ngày 09/4/2023, T lên mạng tìm phòng cho thuê theo ngày (mục
đích để tạo niềm tin cho Shipper tin tưởng và ứng trước tiền hàng cho T) và thuê được căn hộ số 1826G3, Tòa nhà V. T thuê và thanh toán tiền trực tuyến qua ứng dụng “Go2joy” và được ứng dụng cung cấp mã mở cửa tự động. Khoảng 14 giờ cùng ngày T sử dụng tài khoản Facebook “T” tìm được khách quen có tài khoản Facebook “H” (trùng tên với tên Facebook “H” T sử dụng để liên hệ thuê Shipper) sử dụng số điện thoại 0944555xxx, địa chỉ: C. T giới thiệu bán 01 chiếc áo hiệu Gucci, 01 ví da hiệu Gucci đều là đồ đã qua sử dụng bán với giá cho hai sản phẩm là 6.750.000 đồng thì người này đồng ý mua. T sử dụng tài khoản Facebook “H” nhắn lên nhóm chat Facebook “ship tìm người – người tìm ship” với nội dung “Cần một shipper từ G3 Greenbay đến Cống trắng, Quán Toan, Hải Phòng, ứng 6750k, Ship 500k”. Sau đó anh Bùi Thanh T1, sinh năm 1993; Trú tại: N: là shipper, sử dụng tài khoản có tên “Shipper nông nghiệp” nhắn tin qua Messenger cho T thì T hẹn người này đến địa chỉ V để nhận hàng.
T chuẩn bị trước 01 chiếc áo sơ mi hiệu Tommy màu trắng và 01 chiếc ví hiệu
Valentino màu đen (đã qua sử dụng) đóng gói và đưa cho anh T1 đồng thời yêu cầu anh T1 ứng số tiền 6.750.000 đồng và ship hàng này cho khách theo địa chỉ đã đăng. Anh T1 đồng ý và đã chuyển khoản số tiền 6.531.000 đồng vào số tài khoản 86866389xxx thuộc ngân hàng Vpbank của T và đưa cho T 220.000 đồng tiền mặt đồng thời chụp hình ảnh căn cước công dân của T để làm tin. Sau khi anh T1 nhận hàng và trả tiền cho T thì đến 16 giờ cùng ngày, T trả căn hộ đã thuê đồng thời xóa và chặn liên lạc với khách và anh Bùi Thanh T1. Số tiền chiếm đoạt được T sử dụng để tiêu sài cá nhân hết.
Anh Bùi Thanh T1 sau đó giao hàng cho người có Facebook “H”, do kiểm tra
hàng không đúng với sản phẩn mà T đã đăng nên người này đã trả lại cho anh T1 mang về. Anh T1 sau đó liên lạc với T không được, biết bị lừa đảo nên ngày 14/4/2023 đã đến Công an phường Mễ Trì trình báo sự việc. Nhận thức được hành vi trên của bản thân là sai trái và vi phạm pháp luật nên ngày 15/4/2023, Vũ Thanh T đã đến Công an phường Mễ Trì để đầu thú.
Tiến hành dẫn giải, Vũ Thanh T đã chỉ được địa điểm thực hiện hành vi phạm
tội tại căn hộ số G.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 251/KLĐGTS ngày 02 tháng 10 năm 2023
của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy bản nhân dân quận Nam Từ Liêm, kết luận: 01 chiếc áo sơ mi màu trắng sọc đỏ - đen, phía trước phần thân bên trái có chữ “TOMMY – HILFIGER”, cỡ áo M, đã qua sử dụng trị giá 100.000 đồng; 01 chiếc ví màu đen, nhãn hiệu “VALENTINO CREATIONS”, kích thước 11x8,5cm, đã qua sử dụng trị giá 600.000 đồng.
Đối với người sử dụng Facebook “C”, sử dụng số điện thoại 0949555999 – là
người đặt mua hàng của Vũ Thanh T, quá trình điều tra xác định, đăng ký thông tin chủ thuê bao là anh Nguyễn Chí H, sinh năm: 1983; Trú tại: Số X, ngách Y ngõ Z. Xác minh tại Công an phường Quan Hoa xác định, không có công dân tên Nguyễn Chí H cư trú trên địa bàn. Xác minh theo địa chỉ số căn cước công dân của anh Nguyễn Chí H tại C Nội xác định, hiện anh Nguyễn Chí H đã không còn sinh sống tại địa chỉ trên. Do Vũ Thanh T chưa gặp mặt và không biết lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ.
Đối với người cho Vũ Thanh T thuê căn hộmt, quá trình điều tra xác định: Bản
thân Vũ Thanh T thường sử dụng ứng dụng Go2joy để thuê nhà, khi thuê, T đăng ký ngày thuê và chuyển tiền trên ứng dụng. Sau đó, chủ nhà hoặc người quản lý sẽ cung cấp thông tin mật khẩu để khách tự vào phòng, T không phải trực tiếp gặp chủ nhà cũng như không phải liên hệ với chủ nhà. Sau khi chiếm đoạt tiền của anh T1, T đã xóa hết thông tin Facebook, tin nhắn, ứng dụng Go2joy trên điện thoại và không nhớ thông tin liên hệ. Tiến hành làm việc với chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1990. Trú tại: T, là người cho thuê căn hộ 1826G3 xác định, chị C làm dịch vụ cho thuê căn hộ trong đó có căn hộ trên ứng dụng “Go2joy” trong đó có căn hộ G. Ngày 09/4/2023, chị C nhận được thông báo từ ứng dụng “Go2joy” về việc có khách tên T đã thuê căn hộ từ 14 giờ đến 16 giờ. Toàn bộ giao dịch đều thông qua ứng dụng, chị C không quen biết cũng như chưa từng gặp mặt T, không biết mục đích T thuê phòng để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Về dân sự: Vũ Thanh T đã bồi thường cho anh Bùi Thanh T1 số tiền 6.750.000
đồng, anh T1 không còn yêu cầu về bồi thường dân sự đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Vũ Thanh T.
Tại bản cáo trạng số 330/CT-VKSNTL ngày 06/11/2023 của Viện kiểm sát nhân
dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Vũ Thanh Tùng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng truy tố và xin giảm nhẹ
hình phạt.
Người bị hại anh Bùi Thanh T1 vắng mặt tại phiên toà.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm giữ nguyên
quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 6 đến 9 tháng tù cải tạo không giam giữ. Áp dụng khoản 3 Điều 36 BLHS do bị cáo không có công ăn việc làm nên đề nghị miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với bị cáo trong thời gian chấp hành án.
Về dân sự: Không. Về vật chứng: 01 áo sơ mi dài tay màu trắng nhãn hiệu
Tommy Hilfiger; 01 ví da nam màu đen nhãn hiệu Valentino là công cụ phương tiện phạm tội đề nghị tịch thu tiêu huỷ; 01 điện thoại Samsung Galaxy S10 màu trắng lắp sim số 0878592018 đề nghị HĐXX tuyên tịch thu sung công.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem
xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát nhân dân
quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, của thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư ký Tòa án. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa, người bị hại và người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan có trong hồ sơ và tại phiên toà, đủ cơ sở xác định: Ngày 09/4/2023, tại căn hộ G, Vũ Thanh T đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt số tiền 6.750.000 đồng của anh Bùi Thanh T1. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm
phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân, cần được xét xử nghiêm minh theo quy định. Song xét, tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thiệt hại xảy ra bị cáo đã tự nguyện khắc phục bồi thường, lần phạm tội này của bị cáo là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, vì vậy áp dụng Điều 36 của Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ, giáo dục tại địa phương như đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Khi chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thì áp dụng khoản 3 Điều 36
BLHS không khấu trừ một phần thu nhập hàng tháng do bị cáo chưa có công ăn việc làm, chưa có thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Vật chứng: 01 áo sơ mi dài tay màu trắng in chữ Tommy, kẻ sọc, đã cũ, đã
qua sử dụng; 01 ví da nam màu đen in chữ Valentino đã cũ, đã qua sử dụng là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu huỷ; 01 điện thoại Samsung Galaxy S10 màu trắng, số imei 35453100401xxx, có lắp sim lắp sim, máy cũ đã qua sử dụng là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên cần sung công quỹ Nhà nước;
. Về dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu nên Toà án không
xem xét.
Bị cáo phải chịu án phí HSST và có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Vũ Thanh T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 ;
Điều 47 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Các Điều 106; Điều 331; Điều 333; Điều 336 BLTTHS 2015.
Xử phạt: Vũ Thanh T 6 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, về tội “Lừa đảo
chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự cấp huyện nhận được Quyết định thi hành án. Giao bị cáo cho chính quyền UBND phường Trung Hoà, quận Cầu Giấy, Hà Nội theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời hạn chấp hành cải tạo không giam giữ.
Áp dụng khoản 3 Điều 36 BLHS: Miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng một phần
thu nhập sung công quỹ nhà nước trong thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 áo sơ mi dài tay màu trắng in chữ Tommy,
kẻ sọc, đã cũ, đã qua sử dụng; 01 ví da nam màu đen in chữ Valentino đã cũ, đã qua sử dụng; Tịch thu sung công 01 điện thoại Samsung Galaxy S10 màu trắng, số imei 35453100401389, có lắp sim lắp sim, máy cũ đã qua sử. Hiện vật chứng nêu trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành dân sự quận Nam Từ Liêm, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/2023.
2. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày
kể từ ngày Tòa tuyên án. Người bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo, người tham gia tố tụng; - Tòa án nhân dân TP Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội; - Sở tư pháp Hà Nội; - VKSND quận Nam Từ Liêm; - THADS quận Nam Từ Liêm; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Quang Long |