vanban.org

Bản án 326/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 10/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm Tội trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Trần Minh T 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/7/2019. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh Tuấn phạm tội trộm cắp tài sản; - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm Tội trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 326/2019/HS-ST
Ngày 10- 10- 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Từ Anh Tuấn;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải- Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 314/2019/TLST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2019, theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 338/2019/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 9 năm 2019, đối với bị cáo:

Trần Minh T (tên gọi khác C), sinh năm 1996 tại tỉnh Bình Dƣơng; thƣờng trú: 07/35 khu phố B, phƣờng B, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1972; có 03 chị ruột, lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1994; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 17/4/2019 bị Công an phƣờng B, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản; bị bắt tạm giữ ngày 06/7/2019, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Phạm Hữu L , sinh năm 1963; địa chỉ: K4/56B, khu phố 5, phƣờng B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Nguyễn Thị T, sinh năm 1970; địa chỉ: 20/7 khu phố B, phƣờng b, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng; vắng mặt.

2. Phan Thanh T1, sinh năm 1998; địa chỉ: 20/7 khu phố B, phƣờng B, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng; vắng mặt.

- Người làm chứng: Nguyễn Hoàng Thanh T, sinh năm 1972; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Trần Minh T, có tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, không có nghề nghiệp ổn định.

Khoảng 00 giờ 20 phút ngày 06/7/2019, T mang theo 01 cái mỏ lết giấu trong ngƣời rồi điều khiển xe đạp màu xanh có dán đề can chữ XKOOL, từ chợ B, phƣờng B, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng đến khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tìm tài sản để chiếm đoạt. Khi đi đến công trình xây dựng nhà dân bên cạnh nhà số 10, tổ 16, khu phố T, phƣờng T, thị xã D, nhìn thấy tại công trình này có 01 mô tơ máy cuộn và 01 mô tơ máy trộn bê tông của anh Phạm Hữu L là chủ công trình xây dựng. Thấy vậy, T đi vào trong công trình rồi dùng mỏ lết mang theo tháo đƣợc 02 mô tơ này mang ra bỏ lên xe đạp, còn 02 mỏ lết T bỏ vào túi quần và bị rơi mất. Đến khoảng 05 giờ cùng ngày, T điều khiển xe đạp chở 02 mô tơ về đến chợ B, phƣờng B, thị xã T, T cất giấu 02 mô tơ vào trong bụi cỏ và đi đạp xe đến tiệm internet “Thiện Thảo” thuộc khu phố B, phƣờng B, thị xã T, gặp Phan Thanh T1 mƣợn xe mô tô hiệu, biển số 61C1-514.41 để đi công việc và hẹn anh T1 gần trƣa sẽ đến lấy xe. Sau đó T đạp xe về chợ B ngủ. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, T đi lấy xe mô tô đi lấy và chở theo hai mô tơ đến cửa hàng thiết bị máy xây dựng M, khu phố B, phƣờng B, thị xã T, bán cho anh Nguyễn Hoàng Thanh T2 là chủ cửa hàng M. Anh T2 nghi ngờ T lấy trộm 02 mô tơ trên nên không mua và báo cáo cho Công an phƣờng B, mời T về trụ sở làm việc. Tại trụ sở Công an phƣờng B, T thừa nhận toàn bộ hành vi lấy trộm 02 mô tơ của mình.

Vật chứng thu giữ: 01 mô tơ hiệu PHASE INDUCTION MOTOR 3HP, màu xám; 01 mô tơ hiệu ELECTRIC 03HP, màu xám; 01 xe đạp màu xanh có dán đề can chữ XKOOL; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, số khung: 097800, số máy: 097808, biển số 61C1-514.41.

Theo Kết luận định giá tài sản số 152/BB.ĐG ngày 12/7/2019 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An, kết luận: 01 mô tơ hiệu PHASE INDUCTION MOTOR 3HP, màu xám có giá trị 1.800.000 đồng; 01 mô tơ hiệu ELECTRIC 03HP, màu xám có giá trị 1.800.000 đồng.

Đối với chiếc xe mô tô Yamaha Sirius, số khung: 097800, số máy: 097808, biển số 61C1-514.41 là tài sản của chị Nguyễn Thị T cho con ruột Phan Thanh T1 mƣợn sử dụng. Anh T1 cho bị cáo T mƣợn để đi công việc, không biết việc T mƣợn xe thực hiện hành vi phạm tội đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu.

Tại cáo trạng số: 331/CT-VKS-DA ngày 16 tháng 9 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Trần Minh T về Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Minh T mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nƣớc xe đạp màu xanh có dán đề can chữ XKOOL là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.

Về trách nhiệm dân sự: Ngƣời bị hại anh Phạm Hữu L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác nên về trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Minh T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ trong nội dung bản cáo trạng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Vào khoảng 00 giờ 20 phút ngày 06/7/2019 tại công trình xây dựng nhà dân bên cạnh nhà số 10, tổ 16, khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng bị cáo Trần Minh T có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 mô tơ hiệu PHASE INDUCTION MOTOR 3HP, màu xám; 01 mô tơ hiệu ELECTRIC 03HP, màu xám của anh Phạm Hữu L. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, T đem hai mô tơ trên đến cửa hàng thiết bị máy xây dựng M, khu phố B, phƣờng B, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng bán cho anh Nguyễn Hoàng Thanh T2 là chủ cửa hàng M. Anh T2 nghi ngờ nên đã báo Công an phƣờng B. Tài sản bị cáo chiếm đoạt, giá trị giá 3600.000 đồng đã thu hồi trả lại cho bị hại anh Phạm Hữu L .

Tài sản bị cáo chiếm đoạt trị giá 3.600.000 đồng, đã đủ yếu tố cấu thành Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó Cáo trạng số 331/CT - VKS - DA ngày 16 tháng 9 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo Trần Minh T là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng và tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản chƣa đƣợc xóa án tích và tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản, nên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

- Đối với 01 mô tơ hiệu PHASE INDUCTION MOTOR 3HP, màu xám; 01 mô tơ hiệu ELECTRIC 03HP, màu xám đã thu hồi trả lại cho bị hại và không yêu cầu bồi thƣờng gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với xe đạp màu xanh có dán đề can chữ XKOOL là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội cần tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nƣớc.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm Tội trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Minh T 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/7/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu sung ngân sách nhà nƣớc xe đạp màu xanh có dán đề can chữ XKOOL.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/9/2013, bút lục 104)

3. Án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Minh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, có mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ