- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Phạm Ch kiện Hứa Thị U"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn và người có quyền và nghĩa vụ liên quan.
- Căn cứ chính? Điều 100 Luật Đất đai; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 326/2018/DS-PT Ngày 24 - 10 - 2018 V/v Tranh chấp |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Dũng;
Các Thẩm phán:
Bà Mai Thị Tú Oanh;
Bà Trần Thị Thu Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 310/2018/TLPT-DS ngày 06 tháng 9 năm 2018 về việc “Tranh chấp
”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2018/DS-ST ngày 06 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1465/2018/QĐ-PT ngày 01 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Phạm Ch – Sinh năm: 1948 ;
– Sinh năm: 1948 ;
:
– Sinh năm: 1948.
: Thôn M
Nh, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
2. Bị đơn:
– Sinh năm: 1942;
Địa chỉ: Thôn L, xã B, huyện Th, tỉnh Ninh Thuận.
: Ông
– Sinh năm: 1968.
: Thôn M
Nh
N1
(theo G
08/9/2017)
:
– Sinh năm: 1966 ;
B1
B
Th
.
3.2. Ông
– Sinh năm: 1968 ;
: Thôn M
Nh
N1, t
.
3.3. Ông
– Sinh năm: 1970 ;
: Thôn M
Nh
N1
.
3.4. Ông
– Sinh năm: 1972 ;
: Thôn A
X
N1
.
3.
– Sinh năm: 1975 ;
– Sinh năm: 1976 ;
: Thôn M
Nh
N1
.
3.7. Ông
– Sinh năm: 1978 ;
3.8. Ông
– Sinh năm 1980 ;
3.9. Ông
– Sinh năm 1983 ;
– Sinh năm: 1984 ;
– Sinh năm: 1987 ;
: Thôn L
B
Th
.
: Ông
–
: Thôn M
Nh
N1
12/10/2017 ;
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
N1
:
–
N1 ;
: Ông
–
N1
-
04/8/2017.
5. Người làm chứng:
5.1. Ông
– Sinh năm: 1940 ;
5.2. Ông
– Sinh năm: 1956 ;
: Thôn M
Nh, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
5.3. Bà Phạm Thị Q1 – Sinh năm: 1950 ;
: Thôn L, xã B, huyện Th, tỉnh Ninh Thuận.
5.4. Bà Phạm Thị Đ – Sinh năm: 1957 ;
Địa chỉ: Thôn M, xã Th, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
- Người kháng cáo: bà Hứa Thị U - bị đơn, ông Phạm Q - n
.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
đơn ông
:
1, cụ
: ông
1, ông
1, ông
1
. Kh 3.500 m2
36 xã N2
M
Nh
N1, tron ông
1
là Phạm Ch, Trương Thị Ng1 diện tích đất mua của ông Phạm Nh2
1
phần đất của ông bà để lại (phần đất nằm phía ngoài giáp đường đi). kh
Phạm Nh2
ông B
. Năm 1995, ông B
mà ch
ông B
với nội dung: chúng tôi đồng ký tên dưới đây chồng là Phạm B và vợ là Hứa Thị U nay vợ chồng chúng tôi ưng thuận sang nhượng cho vợ chồng người em thứ tám là Phạm Ch và Trương Thị Ng1 phân nửa phần đất (với mục đích là cho dứt khoát
ông B
1994 chứ vợ chồng bà không phải trả tiền cho vợ chồng ông Phạm B và bà Hứa Thị U
mẹ chồng là
, ông
ông B
). Hiện nay bà U và con trai bà U là ông Q đang canh tác và đã bán một phần đất cho người khác nhưng không ảnh hưởng đến phần đất của vợ chồng bà phía dưới. Bà yêu cầu bà U và ông Q phải trả ½ diện tích đất cho bà.
Do
(UBND) xã N2 đã tiến hành hòa giải nhưng không thành. Vì vậy, ông Ch và bà Ng1 đã khởi kiện yêu cầu Tòa ángiải quyết.
Tại Biên bản hòa giải ngày 19/6/2018 bà Ng1
n và con là Phạm Q
1.650 m2 một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) đã cấp cho ông Phạm B. nghĩa vụ với bên bị đơn, ông
:
Nh
1
1
.
01/9/1995
N1
D 0832283
.
, vì sợ mẹ ông là bà Hứa Thị U
,
,
,
1,
1
1,
1
Nh.
GCNQSDĐ
2.100 m2.
, bà Ng1
1.650 m2
.
, bà Ng1.
N1 do ông
:
GCNQSDĐ cho ông
1
.
N1
.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2018/DS-ST ngày 06 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận đã quyết định như sau:
Căn cứ vào: Điều 166 Bộ luật dân sự 2015; Các điều 100, 203 Luật đất đai 2013; Các điều 34, khoản 4 Điều 147, các điều 165, 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 12, 27 Nghị quyết số 326/2 ban thường vụ Quốc hội.
:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: yêu cầu bị đơn trả 1.650m2 và đề nghị hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm B đối với diện tích đất này.
Buộc bà Hứa Thị U và ông Phạm Q phải giao trả cho ông Phạm Ch và bà Trương Thị Ng1 diện tích 1.650m2 đất theo Trích lục bản đồ địa chính ngày 28/6/2018 của Văn phòng đăng ký đất đai Ninh Thuận là các điểm (14,15,17,5,6,7,18,21) thuộc tờ bản đồ địa chính số 36 xã N2.
Hủy 01/9/1995 của
N1 cấp cho ông Phạm B đối với phần diện tích 1.650 m2.
Các đương sự liên hệ với cơ quan quản lý đất đai để làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất và chỉnh lý lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, về chi phí đo đạc, định giá, về nghĩa vụ thi hành án và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 19 tháng 7 năm 2018, bà Hứa Thị U - bị đơn, ông Phạm Q -
.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn và người có quyền và nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến như sau: đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn và những người có quyền và nghĩa vụ liên quan, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
:
- Đơn kháng cáo của bị đơn và người có quyền và nghĩa vụ liên quan đúng theo qui định của pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
-
,
Điều 32 Luật tố tụng hành chính
.
Căn cứ nội dung yêu cầu khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.cấp sơ thẩm xác định các quan hệ pháp luật của vụ án cần giải quyết gồm: “Tranh chấp nh
là có căn cứ.
Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn - bà Hứa Thị U và
ông Phạm Q - đồng xét xử xét thấy:
Bị đơn và người đại diện theo ủy quyền cho bị đơn đều thừa nhận: diện tích 3.520m2
01/9/1995 của
N1 cấp cho ông Phạm B có nguồn gốc là đất do cha mẹ cụ Phạm H1 để lại và cụ Phạm H1 cụ Lê Thị X nhận chuyển nhượng của ông Phạm Nh2, không phải là đất do khai phá thêm như trong GCNQSDĐ ghi ở phần “ghi chú”.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã nộp cho Tòa án Giấy bán đất ngày 24/02/1970 có chữ ký của vợ chồng ông Phạm Nh2 (BL 16) và Giấy sang nhượng đất với nội dung: chúng tôi đồng ký tên dưới đây chồng là Phạm B và vợ là Hứa Thị U nay vợ chồng chúng tôi ưng thuận sang nhượng cho vợ chồng người em thứ tám là Phạm Ch và Trương Thị Ng1 phân nửa phần đất (với mục đích là cho dứt khoát) (BL 15).
Ngoài ra nguyên đơn bà Trương Thị Ng1 trình bày:
ông B
N1
ó
ông B
ông B
Phạm B1
ông B1
. Ông Phạm B có nói với ông B bà U: nếu vợ chồng anh chị đồng ý trả lại cho vợ chồng ông Ch ½ đất thì ông B1 mới đồng ý nói ông Ch trả Sổ đỏ cho ông B. Vợ chồng ông B, bà U
, ông Phạm B, mẹ chồng là
1 bà Hứa Thị U
Quang A
: chúng tôi đồng ký tên dưới đây chồng là Phạm B và vợ là Hứa Thị U nay vợ chồng chúng tôi ưng thuận sang nhượng cho vợ chồng người em thứ tám là Phạm Ch và Trương Thị Ng1 một nửa phần đất (với mục đích là cho dứt khoát). Lời trình bày của nguyên đơn phù hợp với lời trình bày của ông Phạm B tại biên bản lấy lời khai (BL 37) và tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của ông Trần Quang A tại biên bản xác minh ngày 23/10/2014 (BL18).
Lời khai của nguyên đơn phù hợp với lời khai các ông bà Phạm B, Phạm Thế V, Phạm Thị Đ1, Phạm Thị Q1 là anh chị em ruột của ông Phạm Ch và Phạm B đều khẳng định
Phạm Ch phần diện tích mua của ông Phạm Nh2
1
phần diện tích ông bà nội để lại vì ông B
. Các ông bà đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (BL 34, 35, 36, 37, 75, 76).
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Q nộp cho Tòa án Tờ chúc ngôn ngày 18/02/2003 của cụ Lê Thị X do ông Phạm Văn L1 viết giùm với nội dung:Nay tôi có một khoảnh đất cát có diện tích khoảng 3,5 sào được sự nhất trí của tôi và các con trai, con gái và dâu, rể thống nhất chung giao mảnh đất có diện tích nói trên cho cháu tôi là Phạm Q, có chữ ký của bà Phạm Thị Đ1, bà Phạm Thị Q1và điểm chỉ
Lê Thị X và được UBND xã N2 chứng thực ngày 18/4/2006 (BL 45, 46). Tại phiên tòa, bà Đ1, bà Q1 không thừa nhận đã ký vào tờ chúc ngôn vì các bà không biết chữ, ông Q thừa nhận chữ ký của bà Q1, bà Đ1 là do ông L1 ký thay. Bà Lê Thị Đăng Tr (là vợ ông Phạm Q) tại biên bản đối chất (BL 193) và tại phiên tòa trình bày: bà là người chở bà X đến UBND xã để chứng thực tờ chúc ngôn, bà X không biết chữ và không có bà Đ1 và bà Q1 cùng đi. Nhân viên tư pháp xã đọc lại tờ chúc ngôn và bảo bà nội chồng điểm chỉ vào. Xét thấy: Cụ X không biết chữ theo quy định tại các điều 632, 656, 658 khoản 2 Bộ luật dân sự 2005: người lập di chúc không biết chữ nhưng không có mặt hai người làm chứng và ký trước cán bộ chứng thực là không phù hợp. Ngoài ra không có mặt đầy đủ những người con của Cụ X, bà Đ1 và bà Q1 thuộc hàng thừa kế thứ nhất của Cụ X nên không được làm chứng trong di chúc. Vì vậy di chúc này không có giá trị chứng minh ông Q là người được hưởng thừa kế.
Theo trích lục bản đồ địa chính ngày 28/6/2018 của Văn phòng đăng ký đất đai Ninh Thuận thửa đất số 147 có tổng diện tích theo đo đạc thực tế sử dụng là 3.753,1 m2 gồm các thửa 361, 362, 363, 364, 365, 383, 384 và 385. Tại phiên tòa, ông Phạm Q và bà Hứa Thị U xác nhận đã chuyển nhượng các thửa đất: 361, 362, 363, 364, 365 cho người khác. Nguyên đơn không có ý kiến về các diện tích đất mà bị đơn đã chuyển nhượng, không yêu cầu trả ½ diện tích đất mà chỉ yêu cầu bị đơn trả lại phần đất trống có diện tích 1.650m2 theo Trích lục bản đồ địa chính ngày 28/6/2018 của Văn phòng đăng ký đất đai Ninh Thuận là các điểm (14,15,17,5,6,7,18,21) và đề nghị hủy một phần GCNQSDĐ của ông Phạm B. Xét thấy: yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận. Diện tích đất này do bà U và ông Phạm Q đang quản lý sử dụng nên buộc bà U và ông Q giao trả 1.650m2 đất cho ông Ch bà Ng1.
Vì vậy cấp sơ thẩm: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bà Hứa Thị U và ông Phạm Q phải giao trả cho ông Phạm Ch và bà Trương Thị Ng1 1.650m2 đất thuộc tờ bản đồ địa chính số 36 xã N2 theo trích lục bản đồ địa chính ngày 28/6/2018 của Văn phòng đăng ký đất đai Ninh Thuận là các điểm (14,15,17,5,6,7,18,21); Hủy 01/9/1995 của
N1 cấp cho ông Phạm B đối với phần diện tích 1.650m2 là có căn cứ nên yêu cầu kháng cáo của bị đơn và người có quyền và nghĩa vụ liên quan là không có căn cứ, không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Kết luận của đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn và người có quyền và nghĩa vụ liên quan là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí dân sự phúc thẩm:
- Bà Hứa Thị U sinh năm 1942 theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2 Quốc Hội đương sự là người cao tuổi nên được miễn.
- Ông Phạm Q phải chịu 300.000.đồng được khấu trừ 300.000 đồng đã nộp
0017203 ngày 26/7/2018
tỉnh Ninh Thuận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự.
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn và người có quyền và nghĩa vụ liên quan.
- Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 08/2018/DS-ST ngày 06 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận .
Căn cứ vào: Điều 166 Bộ luật dân sự 2015; Các điều 100, 203 Luật đất đai 2013; Các điều 34, khoản 4 Điều 147, các điều 165, 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 12, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
.
:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: yêu cầu bị đơn trả 1.650m2 và đề nghị hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm B đối với diện tích đất này.
Buộc bà Hứa Thị U và ông Phạm Q phải giao trả cho ông Phạm Ch và bà Trương Thị Ng1 diện tích 1.650m2đất theo Trích lục bản đồ địa chính ngày 28/6/2018 của Văn phòng đăng ký đất đai Ninh Thuận là các điểm (14,15,17,5,6,7,18,21) thuộc tờ bản đồ địa chính số 36 xã N2.
Hủy một phần Giấy ch 01/9/1995 của
N1 cấp cho ông Phạm B đối với phần diện tích 1.650m2.
Các đương sự liên hệ với cơ quan quản lý đất đai để làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất và chỉnh lý lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Hứa Thị U được miễn.
- Hoàn trả cho bà Hứa Thị U 300.000 đồng(Ba trăm
)
0017204 ngày 26/7/2018
tỉnh Ninh Thuận.
- Ông Phạm Q phải chịu 300.000 đồng được khấu trừ 300.000 đồng đã nộp
0017203 ngày 26/7/2018
tỉnh Ninh Thuận.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao (1); - VKSND cấp cao tại Tp. Hồ Chí Minh(1); - TAND tỉnh Ninh Thuận (1); - VKSND tỉnh Ninh Thuận (1); - Cục THADS tỉnh Ninh Thuận (1); - NĐ (2); - BĐ (2); - NLQ (14); - NLC (4); - Lưu VP(3), HS(2).30b. TPQ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thanh Dũng |