vanban.org

Bản án 325/2026/QĐ-PT — Tranh chấp về thừa kế tài sản

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/04/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là ông Huỳnh Trung T.

Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 35/2025/QĐST-DS ngày 23 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang và chuyển hồ sơ về cho Tòa án nhân dân tỉnh An Giang tiếp tục giải quyết vụ án. Án phí dân sự phúc thẩm: ông Huỳnh Trung T không phải chịu. Hoàn trả cho ông Huỳnh Tru… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Huỳnh Trung T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là ông Huỳnh Trung T.
  • Căn cứ chính? Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 325/2026/QĐ-PTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 21 tháng 4 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Hoàng Thanh Dũng

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Minh

Ông Phan Tô Ngọc

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 35/2025/QĐST-DS ngày 23 tháng 7 năm 2025, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 1 và khoản 2 Điều 218, khoản 1 Điều 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giữa:

- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Trung T, sinh năm 1966; Nơi cư trú: Ấp V, xã V, tỉnh An Giang; Số A, tổ C, ấp B, xã B, tỉnh An Giang.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1958; nơi cư trú: Số A, đường H, phường T, thành phố Cần Thơ.

Người bảo vệ quyền lợi, ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Liêu Thái H, là Luật sư của Văn phòng Luật sư Nguyễn Thị Mỹ L thuộc Đoàn Luật sư thành phố C; địa chỉ: Số A, đường H, phường T, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Bảo T1, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Số B, đường S, khóm B, phường B, tỉnh An Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang;

Kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng: Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh An Giang; trụ sở: ấp B, xã B, tỉnh An Giang.

2. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh A; trụ sở: Số 09, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Rạch Giá, tỉnh An Giang

3. Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (V1); trụ sở: Số D, đường T, phường P, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Đỗ Hồng T2 - Chuyên viên Xử lý nợ - Phòng Xử lý nợ hiện trường - Trung tâm Xử lý nợ của V1; địa chỉ: Số I, đường C, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1973; nơi cư trú: Số B, đường S, khóm B, phường B, tỉnh An Giang (Hoặc S, đường N, phường L, tỉnh An Giang).

5. Bà Trần Thị Bạch T4, sinh năm 1942;

6. Bà Huỳnh Phương T5, sinh năm 1968;

Cùng nơi cư trú: Ấp B, xã B, tỉnh An Giang;

7. Ông Huỳnh Biên C, sinh năm 1971; nơi cư trú: Ấp B, xã B, tỉnh An Giang.

8. Bà Huỳnh Thị Bảo C1 (Bao Chau Huynh T6), sinh năm 1972; nơi cư trú: E A - USA (Hoa Kỳ).

9. Bà Lê Ngọc L1, sinh năm 1979; nơi cư trú: Số A, đường L, phường L, tỉnh An Giang

10. Bà Lê Ngọc N; nơi cư trú: Số A, khóm T, phường M, tỉnh An Giang.

11. Bà Huỳnh Thị Thanh H1, sinh năm 1959; nơi cư trú: Số B, Hẻm F, đường T, phường L, tỉnh An Giang.

12. Bà Huỳnh Thị X, sinh năm 1941; nơi cư trú: Số B, đường T, phường M, tỉnh An Giang.

Tại đơn kháng cáo ngày 04 tháng 8 năm 2025, nguyên đơn là ông Huỳnh Trung T yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nêu trên và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết vụ án.

XÉT THẤY:

Theo đơn khởi kiện và khởi kiện bổ sung, ông Huỳnh Trung T yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế do cha là ông Huỳnh Trung T7 chết để lại là quyền sử dụng diện tích đất 1.330,8m2 thuộc thửa đất số 100 và 101, tờ bản đồ số 60, tọa lạc tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Lê Ngọc L1 đối với các thửa đất tranh chấp; tuyên vô hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh A với bà Lê Ngọc L1.

Sau khi thụ lý vụ án, ngày 18/6/2025, Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ nhất; tuy nhiên, nguyên đơn ông Huỳnh Trung T và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Mỹ L vắng mặt.

Ngày 18/7/2025, Tòa án mở lại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; nguyên đơn ông Huỳnh Trung T và người đại diện theo ủy quyền tiếp tục vắng mặt.

[3] Tại khoản 3 Điều 209 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về thành phần phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: “Trong vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên họp và việc tiến hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành phiên họp giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên họp”.

Khoản 3 Điều 210 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định: “Sau khi các đương sự đã trình bày xong, Thẩm phán xem xét các ý kiến, giải quyết các yêu cầu của đương sự quy định tại khoản 2 Điều này. Trường hợp người được Tòa án triệu tập vắng mặt thì Tòa án thông báo kết quả phiên họp cho họ”.

Như vậy, theo các quy định pháp luật nêu trên, trường hợp nguyên đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mà vẫn vắng mặt thì Tòa án thông báo kết quả phiên họp cho họ và vẫn tiến hành các thủ tục để tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định mà không đình chỉ giải quyết vụ án.

Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm và chuyển hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết vụ án.

Án phí dân sự phúc thẩm: ông Huỳnh Trung T không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào điểm c khoản 5 Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý sử dụng án phí lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là ông Huỳnh Trung T.

Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 35/2025/QĐST-DS ngày 23 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang và chuyển hồ sơ về cho Tòa án nhân dân tỉnh An Giang tiếp tục giải quyết vụ án.

2. Án phí dân sự phúc thẩm: ông Huỳnh Trung T không phải chịu. Hoàn trả cho ông Huỳnh Trung T 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp (do bà Nguyễn Thị Mỹ L nộp thay) theo biên lai thu số 0000919 ngày 19/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ