- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Chu Thị L được ly hôn với anh Lương Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 325/2024/HNGĐ-ST Ngày: 18/12/2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Ngọc Chung
Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thị Minh Khánh
ông Nguyễn Hồng Phương
-Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Yến Ngọc -Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 18/12/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 258/2024/TLST-HNGĐ ngày 10/10/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 255/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/10/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 200/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18/11/2024 giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Chị Chu Thị L; sinh năm : 1982 (vắng mặt)
Nơi thường trú: Thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
*Bị đơn: Anh Lương Văn T, sinh năm: 1982 (vắng mặt)
Nơi thường trú: Thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Hiện đang lao động tại nước ngoài).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai ngày 05/10/2024 nguyên đơn chị Chu Thị L trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Lương Văn T được tự do tìm hiểu và tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn ngày 07/11/2005 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị về nhà anh T làm dâu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc. Do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, nên đến năm 2022 thì anh T đi xuất khẩu lao động, thời gian đầu thì vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc và quan tâm đến nhau, sau đó do vợ chồng thường xuyên sống xa cách nhau lên tình cảm vợ chồng không còn. Kể từ đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không còn liên lạc và quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên chị đề nghị Tòa giải quyết cho chị được ly hôn anh Lương Văn T.
Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là cháu Lương Văn T1, sinh ngày 04/10/2006 và cháu Lương Thảo V, sinh ngày 11/11/2013. Hiện nay các cháu đang ở với chị. Ly hôn chị đề nghị giao cháu Lương Thảo V cho chị nuôi dưỡng, còn cháu Lương Văn T1 đã trưởng thành nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do tính chất công việc nên chị không tham gia được các phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình giữa chị và anh T, nên chị đề nghị Tòa án cho chị được vắng mặt trong các buổi làm việc, xét xử tại Tòa án.
Bị đơn anh Lương Văn T hiện đang lao động tại nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với anh T, đến nay Tòa án không nhận được thông tin của anh T.
+Tòa án đã tiến hành làm việc với bà Khúc Thị N là mẹ đẻ anh T. Bà Khúc Thị N trình bày: Tôi là mẹ đẻ của anh Lương Văn T, anh T hiện nay không có mặt tại địa phương, anh T hiện đang làm việc tại Đài Loan. Anh T ở nước ngoài vẫn thường xuyên liên lạc về cho gia đình qua điện thoại. Về địa chỉ của anh T ở nước ngoài thì bà không được biết nên không cung cấp cho Tòa án án được. Về việc chị L có đơn xin ly hôn với anh T thì quan điểm của anh T là đồng ý ly hôn với chị L.
Vợ chồng anh T và chị L có 02 con chung là là cháu Lương Văn T1, sinh ngày 04/10/2006 và cháu Lương Thảo V, sinh ngày 11/11/2013, ly hôn thì quan điểm của anh T là đồng ý giao cháu Lương Thảo V cho chị L nuôi dưỡng, còn cháu Lương Văn T1 đã trưởng thành anh T không có ý kiến gì. Về cấp dưỡng nuôi con anh T không có ý kiến gì.
Về tài sản chung, công nợ chung: không có.
Tại biên bản lấy lời khai cháu Lương Thảo V, sinh ngày 11/11/2013 trình bày: Cháu là con của bố Lương Văn T và mẹ Chu Thị L, hiện nay cháu đang ở với mẹ, nếu bố mẹ cháu ly hôn thì nguyện vọng của cháu là muốn ở với mẹ Chu Thị L.
Tại phiên tòa nguyên đơn chị Chu Thị L vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Lương Văn T vắng mặt không có lý do.
Hội đồng xét xử thông qua đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Chu Thị L; biên bản làm việc với bà Khúc Thị N và biên bản lấy lời khai của cháu Lương Thảo V và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn chị Chu Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn anh Lương Văn T không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với anh T; Căn cứ vào Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân Tối cao xử vắng mặt anh T là đúng.
-Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng điều 51, 53, 56; Điều 81, 82, 83, 84 và khoản 2 điều 123; điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28; khoản 3 điều 35; điểm c khoản 1 điều 37; khoản 4 điều 147; điều 271; điều 273; điều 150; khoản 2 điều 479 BLTTDS; khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/ UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Chu Thị L. Xử:
Về hôn nhân: cho chị Chu Thị L được ly hôn anh Lương Văn T.
Về con chung: Giao con chung là cháu Lương Thảo V, sinh ngày 11/11/2013 cho chị Chu Thị L là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra do chị L không yêu cầu.
Anh Lương Văn T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này.
Về án phí: chị Chu Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ pháp luật: chị Chu Thị L là nguyên đơn là người Việt Nam, hiện đang sống ở Việt Nam có đơn xin ly hôn và yêu cầu giải quyết nuôi con chung đối với anh Lương Văn T . Bị đơn anh Lương Văn T là người Việt Nam, có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang nhưng đang sống ở nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành làm việc với mẹ đẻ của anh T là bà Khúc Thị N, yêu cầu bà N cung cấp địa chỉ cụ thể của anh T ở nước ngoài nhưng bà N vẫn không cung cấp địa chỉ, tin tức của anh T cho Tòa án. Nhận thấy đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, căn cứ vào Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân Tối cao; khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xác định đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: anh Lương Văn T hiện đang lao động tại nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ (theo Công văn số 3505/QLXNC ngày 30/10/2024 của phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh B), thì anh T xuất nhập cảnh 07 lần, lần xuất cảnh gần nhất ngày 12/4/2022 hiện chưa có thông tin nhập cảnh trở lại, địa chỉ cuối cùng của anh T ở Việt Nam là: Thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Như vậy, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình có đương sự ở nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình;khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
.Về sự vắng mặt của đương sự: chị Chu Thị L đề nghị xét xử vắng mặt, anh Lương Văn T vắng mặt không có lý do. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
. Về Hôn nhân: chị Chu Thị L và anh Lương Văn T có đăng ký kết hôn ngày 07/11/2005 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng chị L và anh T phát sinh mâu thuẫn, chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Chu Thị L đối với anh Lương Văn T. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị L và anh T về chung sống với nhau hạnh phúc. Do hoàn cảnh kinh tế, đến năm 2022 thì anh T đi nước ngoài lao động, thời gian đầu khi anh T mới sang nước ngoài thì vợ chồng thường xuyên liên lạc và quan tâm tới nhau, sau đó do vợ chồng sống xa cách nhau lâu ngày nên không còn tình cảm vợ chồng ít khi liên lạc với nhau và đến nay đã không còn quan tâm gì đến nhau. Xét thấy tình cảm giữa chị L và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Chu Thị L. Xử cho chị Chu Thị L được ly hôn anh Lương Văn T .
. Về con chung: chị Chu Thị L và ạnh Lương Văn T có 02 con chung là cháu Lương Văn T1, sinh ngày 04/10/2006 và cháu Lương Thảo V, sinh ngày 11/11/2013. Ly hôn chị L đề nghị giao cháu Lương Thảo V cho chị nuôi dưỡng, còn cháu Lương Văn T1 đã trưởng thành chị không đề nghị giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Xét yêu cầu nuôi con chung của chị L: Hội đồng xét xử thấy hiện nay anh T đang lao động tại nước ngoài không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Anh Lương Văn T từ khi đi nước ngoài đến nay thì hai cháu Lương Văn T1 và cháu Lương Thảo V vẫn do chị L là người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, các cháu được đi học đầy đủ. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của chị Chu Thị L về nuôi con chung. Giao cho chị Chu Thị L là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Lương Thảo V, sinh ngày 11/11/2013 đến khi cháu V đủ 18 tuổi là phù hợp với điều kiện thực tế cũng như quyền và lợi ích về mọi mặt của con chung.
Sau khi ly hôn anh Lương Văn T có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
.Về tài sản, công nợ: chị Chu Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Chị Chu Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83, 84 và khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 3 điều 153; Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
1.Về hôn nhân: Cho chị Chu Thị L được ly hôn với anh Lương Văn T.
2.Về con chung: Giao cháu Lương Thảo V, sinh ngày 11/11/2013 cho chị Chu Thị L là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Anh Lương Văn T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này.
3.Về án phí: Chị Chu Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000094 ngày 09/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang (xác nhận chị Chu Thị L đã nộp đủ).
4.Về quyền kháng cáo bản án: Chị Chu Thị L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
Anh Lương Văn T hiện đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có thời hạn kháng cáo Bản án là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: -TAND cấp cao tại Hà Nội -Cổng thông tin điện tử TANDTC -VKSND tỉnh Bắc Giang; -Cục THADS tỉnh Bắc Giang; -UBND xã Bảo Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. -Các đương sự; -Lưu hồ sơ vụ án; -Lưu Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Chung |