vanban.org

Bản án 325/2024/DSPT — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 03/12/2024 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/12/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đinh Văn H1. Giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 169/2024/DS-ST ngày 21/8/2024 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Kiện đòi tài sản"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 325/2024/DS-PT
Ngày: 03 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Văn Toàn

Các Thẩm phán: Ông Y Phi Kbuôr, ông Trần Duy Phương.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Chí Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 305/2024/TLPT-DS ngày 30 tháng 10 năm 2024, về việc “Kiện đòi tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 169/2024/DS-ST ngày 21/8/2024 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột., tỉnh Đắk Lắk bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 290/QĐ-PT ngày 30/10/2024, Quyết định hoãn phiên toà số: 303/QĐ-PT ngày 21/11/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1962. Địa chỉ: Số I N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Đinh Văn H1, sinh năm 1975 và bà Đinh Thị L, sinh năm 1979. Cùng địa chỉ: Số C H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Đều vắng mặt.

Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Ông Bùi Đức S, sinh năm 1978. Địa chỉ: Số A H, phường T, Tp B, tỉnh Đắk Lắk (Theo văn bản uỷ quyền ngày 30/8/2024). Có mặt.

3. Người kháng cáo: Bị đơn ông Đinh Văn H1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày:

Do có mối quan hệ quen biết nên bà Lê Thị H có cho vợ chồng ông Đinh Văn H1 và bà Đinh Thị L vay tiền nhiều lần, cụ thể: Ngày 05/5/2020 vay số tiền 200.000.000 đồng, ngày 09/7/2020 vay số tiền 120.000.000 đồng, ngày 14/7/2020 vay 40.000.000 đồng và ngày 15/10/2020 vay số tiền 40.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền vay là 400.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận miệng theo lãi suất Ngân hàng, thời hạn vay thỏa thuận bà H sẽ báo trước cho ông H1, bà L để thu xếp trả, mục đích vay để mua ô tô, sử dụng chung cho cuộc sống gia đình. Tất cả các lần vay trên hai bên đều viết giấy vay nhận nợ. Đến nay ông Đinh Văn H1 và bà Đinh Thị L chưa trả được khoản tiền nào, mặc dù bà H đòi rất nhiều lần nhưng ông H1, bà L chỉ hứa hẹn không chịu trả.

Do đó, bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Đinh Văn H1 và bà Đinh Thị L trả cho bà Lê Thị H số tiền vay gốc còn nợ là 400.000.000 đồng. Về tiền lãi bà H không yêu cầu ông H1, bà L phải trả.

Về số tiền 90.000.000 đồng mà ông H1 trình bày vay bà H vào năm 2019 thì ông H1 đã thanh toán xong gốc lãi nên bà H không có ý kiến và yêu cầu gì.

* Bị đơn ông Đinh Văn H1, bà Đinh Thị L và người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn trình bày:

Ông Đinh Văn H1 quen biết với bà H từ năm 2018, ông H1 có vay của bà H 2 lần, lần 1 số tiền 60.000.000 đồng, lần 2 số tiền 30.000.000 đồng, tổng cộng là 90.000.000 đồng, số tiền này ông H1 đã trả xong nhưng chưa lấy lại giấy vay.

Còn số tiền 400.000.000 đồng mà nguyên đơn khởi kiện thì vợ chồng ông H1, bà L không vay, các giấy vay mà bà H khởi kiện là do bà H đưa cho ông H1 và nói cho ông H1 mẫu giấy vay để khi nào có người vay thì nhìn vào mà viết và ông H1 viết theo bà H yêu cầu. Chữ ký, chữ viết Đinh Văn H1 trong các giấy vay tiền mà nguyên đơn cung cấp đúng là chữ ký, chữ viết của ông H1. Do đó ông H1, bà L không chấp nhận trả cho bà H số tiền 400.000.000 đồng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 169/2024/DS-ST ngày 21/8/2024 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột. đã quyết định:

- Căn cứ các Điều 163, 164, 166, 274, 275 và 280 Bộ luật dân sự 2015;

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H.

Buộc ông Đinh Văn H1 có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị H số tiền 400.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H về việc yêu cầu bà Đinh Thị L có trách nhiệm liên đới cùng ông Đinh Văn H1 trả số tiền 400.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định pháp luật.

Ngày 30/8/2024, bị đơn ông Đinh Văn H1 làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Đinh Văn H1 giữ nguyên đơn kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các giấy vay nợ giữa bà H và ông H1 có nội dung quá sơ sài, nếu chỉ căn cứ vào các giấy vay này mà không có biên bản giao nhận tiền, không có thông tin chuyển khoản ngân hàng để chấp nhận đơn khởi kiện của bà H là chưa thuyết phục. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm, bác đơn khởi kiện của bà H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Qua phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đinh Văn H1, giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số: 169/2024/DS-ST ngày 21/8/2024 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài liệu chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Đinh Văn H1 nộp trong hạn luật định. Người kháng cáo đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định nên vụ án được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm là phù hợp.

Xét kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của bị đơn ông Đinh Văn H1 thấy rằng:

Bà Lê Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đinh Văn H1 và bà Đinh Thị L trả cho bà Lê Thị H số tiền vay gốc còn nợ là 400.000.000 đồng theo Giấy mượn tiền đề ngày 05/5/2020 vay số tiền 200.000.000 đồng, ngày 09/7/2020 vay số tiền 120.000.000 đồng, ngày 14/7/2020 vay 40.000.000 đồng và ngày 15/10/2020 vay số tiền 40.000.000 đồng.

Bị đơn ông Đinh Văn H1 thừa nhận chữ ký, chữ viết đề tên Đinh Văn H1 trong 04 giấy vay tiền mà nguyên đơn cung cấp là của ông H1 ký với bà H, việc ông H1 viết và ký vào giấy vay là do bà H nói cho ông H1 mẫu giấy vay để khi nào có người vay thì nhìn vào mà viết và ông H1 viết theo bà H yêu cầu chứ không vay bà H số tiền trên, khoản vay trên là không có thật. Tuy nhiên ông H1 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình và không được phía nguyên đơn thừa nhận. 04 giấy vay tiền chỉ có chữ ký, chữ viết của ông H1 không có chữ ký, chữ viết của bà Đinh Thị L. Quá thời hạn, ông H1 không trả nợ cho bà H là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Đinh Văn H1 có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị H số tiền 400.000.000 đồng là có căn cứ. Vì vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đinh Văn H1, cần giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 169/2024/DS-ST ngày 21/8/2024 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo, bị đơn ông Đinh Văn H1 phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đinh Văn H1.

Giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 169/2024/DS-ST ngày 21/8/2024 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

[2] Tuyên xử:

2.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H.

Buộc ông Đinh Văn H1 có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị H số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2.2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H về việc yêu cầu bà Đinh Thị L có trách nhiệm liên đới cùng ông Đinh Văn H1 trả số tiền 400.000.000 đồng.

[3] Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Đinh Văn H1 phải chịu 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn bà Lê Thị H được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đinh Văn H1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0013473 ngày 05/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ