vanban.org

Bản án 325/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 29/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố b cáo Tr n Th im N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

C n cứ vào hoản 1 Điều 173, Điều 38, Điểm b, s hoản 1 Điều 51, hoản 2 Điều 51, Điểm g hoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt b cáo Tr n Th im N 01 (một n m 3 ba tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 5 n m 2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRẦN THỊ KIM N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố b cáo Tr n Th im N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 325/2023/HS-ST
Ngày 29-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hu nh V n B ;

Bà Phan Th u n Hư ng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trư ng V n B - Thư ký Tòa án nh n d n huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê V n Chung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 12 n m 2023 tại trụ sở Tòa án nh n d n huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh x t xử s thẩm công khai vụ án hình sự s thẩm thụ lý số: 252/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 10 n m 2023 theo Quyết đ nh đưa vụ án ra x t xử số: 309/2023/QĐ ST-HS ngày 13 tháng 12 n m 2023 đối với b cáo:

Tr n Th im N, sinh ngày 20 tháng 6 n m 2004 tại t nh S c Tr ng; n i thường trú: p M, x V, th x A, t nh S c Tr ng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; d n tộc: inh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Tr n V n B và bà Lưu Th O; b cáo chưa có chồng, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; b bắt tạm giam từ ngày 12/5/2023 cho đến nay; b cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Nguyễn Giáng T, sinh n m 1987 vắng mặt .

Đ a ch : Số 15/5 ấp Mới 2, x D, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Bà Nguyễn Th L, sinh n m 1994 vắng mặt ;

Thường trú: Thôn , x E, huyện G, t nh Quảng Ng i.

N i ở: p 4, x I, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Bà Võ Th Thanh , sinh n m 1990 vắng mặt ;

Thường trú: Số 24, tổ 7, ấp 7, x Y, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

N i ở: Số 91, đường Đ, tổ 8, ấp P, xã Q, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Bà Nguyễn Th Tú T1, sinh n m 1996 vắng mặt ;

Thường trú: p A1, xã P1, huyện B1, t nh Trà Vinh.

N i ở: Đường Đ, ấp P, xã Q, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Nguyễn Ngọc Tuyết N1, sinh ngày 04/7/2008 vắng mặt .

Người đại diện: Bà Nguyễn Giáng T, sinh n m 1987 vắng mặt .

Đ a ch : Số 15/5 ấp Mới 2, x D, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu c trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m tắt như sau:

Tr n Th im N quen biết với Nguyễn Ngọc Tuyết N1 qua trò ch i game trên mạng. Cuối tháng 01 n m 2023, N không c chỗ ở nên N1 n i mẹ N1 tên Nguyễn Giáng T c c n nhà tại tổ 8, ấp P, xã Q, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, để N1 hỏi mẹ. hoảng tháng 02 n m 2023, bà T đồng ý cho N ở nên đ cùng với N dẫn đến c n nhà tại tổ 8, ấp P, xã Q, huyện C cho N ở nhờ. Trong quá trình sinh sống do c n tiền tiêu xài cá nh n và lợi dụng việc bà Nguyễn Giáng T không thường xuyên đến n i N ở nên N đ nảy sinh ý đ nh trộm cắp số tài sản trong nhà bà T để bán lấy tiền tiêu xài: Cụ thể vào ngày 01 tháng 3 n m 2023, N đ ng lên mạng Facebook tên Thiên Ân Jelly với nội dung “C n thanh lý đồ nhà trọ” và chụp ảnh 01 máy giặt hiệu Sharp, 01 tủ lạnh hiệu Sharp, 01 máy lạnh hiệu Sharp, 01 tủ gỗ qu n áo. Chiều cùng ngày, một người nam c tài khoản Facebook tên H1 đến nhà mua 01 máy giặt hiệu Sharp loại 7 kg, 01 máy lạnh hiệu Sharp 2HP, 01 tủ lạnh hiệu Sharp thể tích 180 lít với giá 2.400.000 đồng. Ngày 06 tháng 3 n m 2023, N tiếp tục bán cho một người nữ c tài khoản Facebook tên K1 01 cái giường gỗ sồi kích thước 1,8x2 mét; 01 cái tủ gỗ sồi loại 4 cánh kích thước 2x2 m t; 01 cái bàn gỗ hình chữ nhật mặt kiếng kích thước dài 1,1 m t, rộng 55cm, cao 50cm; 01 cái ghế gỗ dài 1,8 m t; 01 xe đạp gấp hiệu Jeep màu xanh được số tiền 4.100.000 đồng. Ngày 31 tháng 3 n m 2023, N bán 01 xe mô tô hiệu Honda SCR màu đen biển số 51 5-1147; 01 xe đạp đ a hình hiệu -TREMC màu xanh trắng cho bà Võ Th Thanh được số tiền 500.000 đồng. N đ ng tin lên mạng Facebook “C n cho thuê nhà trọ nguyên c n” thì Facebook Nguyễn Phư ng tên Nguyễn Th Tú T1 liên hệ đến xem nhà và đồng ý thuê với giá 1.400.000 đồng chuyển vào tài khoản ngân hàng Vietcombank số 1030428685 đứng tên Tr n Th im N và hẹn ngày 01/4/2023 đến ở. Tối ngày 31 tháng 3 n m 2023, N bỏ đi đến nhiều n i và tiêu xài hết số tiền bán tài sản. Ngày 02 tháng 4 n m 2023, bà Nguyễn Giáng T mới phát hiện sự việc nên trình báo Công an xã Q xử lý.

Tại ết luận đ nh giá tài sản số 100/KL-HĐĐGTS ngày 05/5/2023 của Hội đồng đ nh giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nh n d n huyện Củ Chi kết luận:

01 máy lạnh hiệu Sharp 2HP c tr giá 2.100.000 đồng; 01 tủ lạnh hiệu Sharp, thể tích 180 lít c tr giá 1.200.000 đồng; 01 máy giặt hiệu Sharp, loại 7kg c tr giá 600.000 đồng; 01 cái giường gỗ sồi, kích thước: 1,8x2 m t c tr giá 2.000.000 đồng; 01 cái tủ gỗ sồi loại 4 cánh, kích thước: 2x2 m t c tr giá 2.800.000 đồng; 01 cái bàn gỗ hình chữ nhật mặt kiếng c kích thước: dài 1,1 m t, rộng 55cm, cao 50cm c tr giá 500.000 đồng; 01 cái ghế gỗ dài 1,8 m t, rộng 60cm, cao 50cm c tr giá 2.400.000 đồng; 01 xe đạp gấp hiệu Jeep màu xanh c tr giá 700.000 đồng; 01 xe mô tô hiệu Honda SCR màu đen, biển số: 51K5-1147, số máy: WH150MH06L01558, số khung: LWBTDH10761004666 c tr giá 5.900.000 đồng; 01 xe đạp đ a hình hiệu -TREMC màu xanh trắng c tr giá 500.000 đồng. Tổng giá tr tài sản được đ nh giá là 18.700.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

Vật chứng thu giữ từ bà Nguyễn Th L, đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu: 01 xe đạp gấp hiệu Jeep màu xanh; 01 cái giường gỗ sồi kích thước 1,8x2 m t; 01 bộ bàn ghế gỗ; 01 cái tủ gỗ sồi loại 4 cánh kích thước 2x2 mét.

Vật chứng thu giữ từ bà Võ Th Thanh X, đ trả lại tài sản cho chủ sở hữu: 01 xe mô tô hiệu Honda SCR màu đen, biển số 51 5-1147, số máy WH150MH06L01558, số khung LWBTDH10761004666; 01 xe đạp đ a hình hiệu -TREMC màu xanh trắng.

Tại Cáo trạng số 189/CT-VKS.CC ngày 21 tháng 8 n m 2023, Viện kiểm sát nh n d n huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đ truy tố b can Tr n Th Kim N về tội “Trộm cắp tài sản” theo hoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, b cáo Tr n Th im N thừa nhận hành vi phạm tội và khai rằng: Vào n m 2021, b cáo c quen biết với người bạn tên Nguyễn Ngọc Tuyết N1 trên mạng x hội Facebook thông qua việc ch i game. Tháng 01 n m 2023, b cáo n i với N1 b gia đình đuổi khỏi nhà, không c chỗ ở nên N1 c n i mẹ của N1 tên Nguyễn Giáng T c 01 c n nhà tại xã Q, huyện C nhưng ít ở. B cáo nhờ N1 hỏi bà T cho b cáo ở nhờ thì bà T đồng ý. Tháng 02 n m 2023, b cáo dọn đến nhà của bà T. Khi đến nhà của bà T tại ấp P, xã Q, huyện C để ở, khoảng ba bốn ngày N1 mới gh . B cáo biết bà T bận công việc mua bán ít ghé th m nhà nên b cáo nảy sinh ý đ nh chiếm đoạt các tài sản trong nhà của bà T để bán lấy tiền tiêu xài. Ngày 01 tháng 3 n m 2023, b cáo dùng mạng x hội Facebook đ ng tin “C n thanh lý đồ nhà trọ” là 01 máy giặt hiệu Sharp, 01 tủ lạnh hiệu Sharp, 01 máy lạnh hiệu Sharp, 01 tủ gỗ qu n áo. Chiều cùng ngày, một người thanh niên đến nhà mua 01 máy giặt hiệu Sharp loại 7kg, 01 máy lạnh hiệu Sharp 2HP, 01 tủ lạnh hiệu Sharp thể tích 180 lít với giá 2.400.000 đồng. Ngày 06 tháng 3 n m 2023, b cáo tiếp tục bán cho một người nữ c tài khoản Facebook tên 1 01 cái giường gỗ sồi kích thước 1,8x2 mét; 01 cái tủ gỗ sồi loại 4 cánh kích thước 2x2 m t; 01 cái bàn gỗ hình chữ nhật mặt kiếng có kích thước dài 1,1 m t, rộng 55cm, cao 50cm; 01 cái ghế gỗ dài 1,8 mét; 01 xe đạp gấp hiệu Jeep màu xanh được số tiền 4.100.000 đồng. Ngày 31 tháng 3 n m 2023, b cáo bán 01 xe mô tô hiệu Honda SCR màu đen biển số 51 5-1147, 01 xe đạp đ a hình hiệu -TREMC màu xanh trắng cho bà Võ Th Thanh được số tiền 500.000 đồng. Sau khi bán các tài sản của bà N, b cáo sợ b phát hiện nên b cáo đ ng lên mạng Facebook tin “C n cho thuê nhà trọ nguyên c n” thì Facebook Nguyễn Phư ng tên Nguyễn Th Tú T1 liên hệ đến xem nhà và đồng ý thuê với giá 1.400.000 đồng và đ thanh toán tiền thuê bằng cách chuyển vào tài khoản ng n hàng Vietcombank số 1030428685 đứng tên Tr n Th im N và hẹn ngày 01/4/2023 đến ở. Sau đ , b cáo giao nhà cho bà T1 rồi dọn đi n i khác, ngày 02/4/2023 thì b phát hiện. B cáo bỏ về quê. Ngày 22/4/2023, b cáo b công an x V, th x A, t nh S c Tr ng mời lên làm việc. B cáo đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. B cáo đ nhờ gia đình cho mượn tiền để bồi thường cho bà T số tiền 22.000.000 đồng và được bà T làm đ n bãi nại, bồi thường cho bà Nguyễn Th L số tiền 4.100.000 đồng, bồi thường cho bà Võ Th Thanh số tiền 500.000 đồng. Đối với yêu c u bồi thường số tiền 1.400.000 đồng của bà T1, b cáo tự nguyện bồi thường.

Tại phiên tòa, b hại bà Nguyễn Giáng T vắng mặt, lời khai của bà T tại C quan Cảnh sát điều tra công an huyện Củ Chi thể hiện: hoảng tháng 01 n m 2023, con gái bà tên Nguyễn Ngọc Tuyết N1 c hỏi bà cho người bạn tên Tr n Th im N ở nhờ c n nhà tại ấp P, xã Q, huyện C thì bà đồng ý. Tháng 02 n m 2023, bà cùng với con gái gặp Tr n Th im N để dẫn đến nhà của bà cho N ở. Do buôn bán nên bà ít gh nhà tại ấp P, xã Q, huyện C. Ngày 02/4/2023, bà được người hàng x m điện thoại báo c người lạ đến dọn đồ trong nhà để ở nên bà chạy đến nhà tại ấp P, xã Q, huyện C thì phát hiện c bà Nguyễn Th Tú T1 đang ở. Các vật dụng trong nhà như 01 máy giặt hiệu Sharp, 01 tủ lạnh hiệu Sharp, 01 máy lạnh hiệu Sharp, 01 cái giường gỗ sồi kích thước 1,8x2 mét, 01 cái tủ gỗ sồi loại 4 cánh kích thước 2x2 m t, 01 cái bàn gỗ hình chữ nhật mặt kiếng có kích thước dài 1,1 m t rộng 55cm cao 50cm, 01 cái ghế gỗ dài 1,8 mét, 01 xe đạp gấp hiệu Jeep màu xanh, 01 xe đạp đ a hình hiệu -TREMC màu xanh trắng, 01 xe mô tô hiệu Honda SCR màu đen biển số 51 5-1147 không còn. Bà nhờ con gái tên N1 điện thoại cho Tr n Th im N thì N thừa nhận là người đ lấy trộm tài sản. Bà yêu c u N đến gặp để giải quyết nhưng N không đến. Bà đ báo Công an x Q, huyện C nhờ giải quyết. Quá trình điều tra, bà đ được nhận lại các tài sản mất trộm gồm: 01 cái giường gỗ sồi kích thước 1,8x2 mét, 01 bộ bàn ghế gỗ, 01 cái tủ gỗ sồi loại 4 cánh kích thước 2x2 mét, 01 xe mô tô hiệu Honda SCR màu đen biển số 51 5-1147 số máy WH150MH06L01558 số khung LWBTDH10761004666, 01 xe đạp đ a hình hiệu -TREMC màu xanh trắng, 01 xe đạp gấp hiệu Jeep màu xanh. N cùng với gia đình đ bồi thường cho bà số tiền 22.000.000 đồng nên bà làm đ n b i nại cho b cáo và không yêu c u gì thêm.

Tại phiên tòa, người c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Th L vắng mặt. Lời khai của bà L tại C quan Cảnh sát điều tra công an huyện Củ Chi thể hiện: Ngày 06/3/2023, bà sử dụng mạng Facebook để tìm tài sản mua thì biết được tài khoản Facebook Thiên Ân c đ ng c n thanh lý đồ cũ. Bà liên lạc để mua 01 cái giường gỗ sồi kích thước 1,8x2 mét, 01 cái tủ gỗ sồi loại 4 cánh kích thước 2x2 mét, 01 cái bàn gỗ hình chữ nhật mặt kiếng có kích thước dài 1,1 m t rộng 55cm cao 50cm, 01 cái ghế gỗ dài 1,8 mét, 01 xe đạp gấp hiệu Jeep màu xanh với giá 4.400.000 đồng nhưng giảm 300.000 đồng. Bà thanh toán cho N số tiền 4.100.000 đồng rồi kêu xe chở đồ về. Sau đ , công an mời bà lên làm việc thì bà mới biết tài sản trên do N phạm tội mà c . Bà đ giao nộp lại cho công an. Gia đình N đ bồi thường cho bà số tiền 4.100.000 đồng nên bà không yêu c u gì thêm.

Tại phiên tòa, người c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Võ Th Thanh vắng mặt. Lời khai của bà tại C quan Cảnh sát điều tra công an huyện Củ Chi thể hiện: Ngày 31/3/2023, bà gặp N tại quán nước thì N n i cho bà biết c n bán 01 xe máy và 01 xe đạp đ a hình với giá 500.000 đồng. N nói cho bà biết là xe dì của N không còn sử dụng nên bán. Bà đồng ý mua và mang tài sản về nhà. Sau đ , công an mời bà lên làm việc thì bà mới biết tài sản trên do N phạm tội mà c . Bà đ giao nộp lại cho công an. Gia đình N đ bồi thường cho bà số tiền 500.000 đồng nên bà không yêu c u gì thêm.

Tại phiên tòa, người c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Th Tú T1 vắng mặt. Lời khai của bà T1 tại C quan Cảnh sát điều tra công an huyện Củ Chi thể hiện: Do c n nhà thuê nên bà lên mạng x hội thì thấy đ ng tin cho thuê nhà nguyên c n tại ấp P, xã Q, huyện C. Bà liên hệ với N để xem nhà. Sau khi xem nhà thì bà đồng ý thuê với giá 1.400.000 đồng/tháng. Bà đ thanh toán tiền thuê cho N 1.400.000 đồng và hẹn đến ngày 01/4/2023 sẽ dọn đến ở. Ngày 01/4/2023, bà dọn đồ đến c n nhà đ thuê của N tại ấp P, xã Q, huyện C. Ngày 02/4/2023, bà Nguyễn Giáng T đến nhà bà đang thuê n i cho bà biết là c n nhà này của bà T cho N ở nhờ. Bà T phát hiện tài sản trong nhà b mất nên báo công an xã Q, huyện C xử lý. Sau khi công an mời bà làm việc thì bà mới phát hiện bản th n b bà N lừa. Bà đ dọn dẹp đồ dùng và bàn giao lại c n nhà cho bà T. Bà yêu c u N phải bồi thường cho bà số tiền 1.400.000 đồng mà bà đ giao cho N.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nh n d n huyện Củ Chi giữ quyền công tố ph n tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết t ng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của b cáo và đề ngh Hội đồng x t xử:

Áp dụng hoản 1 Điều 173, Điểm b, s hoản 1 Điều 51, hoản 2 Điều 51, Điểm g hoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt b cáo Tr n Th im N mức án từ 01 (một) n m tù đến 01 (một n m 6 sáu tháng tù.

Về trách nhiệm d n sự: B cáo bồi thường cho bà Nguyễn Th Tú T1 số tiền 1.400.000 (một triệu bốn tr m nghìn) đồng.

Về hình phạt bổ sung: B cáo không c việc làm ổn đ nh đề ngh Hội đồng x t xử x t không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy đ nh tại hoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

B cáo Tr n Th im N không tranh luận, không tự bào chữa.

B cáo Tr n Th im N n i lời sau cùng: B cáo mong Hội đồng x t xử xem x t giảm nhẹ hình phạt để b cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng x t xử nhận đ nh như sau:

Về hành vi, quyết đ nh tố tụng của c quan c thẩm quyền tiến hành tố tụng, người c thẩm quyền tiến hành tố tụng:

C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nh n d n huyện Củ Chi, iểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, b cáo không c ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết đ nh của c quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, quyết đ nh tố tụng của c quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh; điều luật áp dụng; tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

B cáo Tr n Th im N c hành vi l n lút chiếm đoạt tài sản của bà Nguyễn Giáng T 01 máy giặt hiệu Sharp, 01 tủ lạnh hiệu Sharp, 01 máy lạnh hiệu Sharp vào ngày 01/3/2023 tài sản tr giá 3.900.000 đồng; 01 cái giường gỗ sồi kích thước 1,8x2 mét, 01 cái tủ gỗ sồi loại 4 cánh kích thước 2x2 m t, 01 cái bàn gỗ hình chữ nhật mặt kiếng có kích thước dài 1,1 m t rộng 55cm cao 50cm, 01 cái ghế gỗ dài 1,8 mét, 01 xe đạp gấp hiệu Jeep màu xanh vào ngày 06/3/2023 tài sản tr giá 8.400.000 đồng; 01 xe mô tô hiệu Honda SCR màu đen biển số 51 5-1147, 01 xe đạp đ a hình hiệu -TREMC màu xanh trắng vào ngày 31/3/2023 tài sản tr giá 6.400.000 đồng. Bằng hành vi nêu trên b cáo Tr n Th im N đ phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy đ nh tại hoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đ , Viện kiểm sát nh n d n huyện Củ Chi truy tố b cáo về tội danh nêu trên là c c n cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của b cáo là nguy hiểm cho x hội. Vì mục đích c tiền tiêu xài mà b cáo đ lợi dụng s hở của chủ sở hữu, l n lút chiếm đoạt tài sản. Hành vi của b cáo không những đ trực tiếp x m phạm đến quyền sở hữu về tài sản của b hại mà còn g y mất trật tự an toàn x hội, g y ảnh hưởng đến đời sống và sinh hoạt tại đ a phư ng. hi thực hiện hành vi phạm tội b cáo nhận thức rõ việc b cáo chiếm đoạt tài sản là sai trái, phạm pháp nhưng b cáo vẫn ngang nhiên đi đến hành động phạm tội nhằm thỏa m n động c tư lợi của cá nh n b cáo. Do vậy, Hội đồng x t xử thấy c n phải xử lý b cáo bằng một hình phạt nghiêm và cách ly ra khỏi x hội một thời gian là c n thiết.

Về tình tiết t ng nặng trách nhiệm hình sự:

B cáo Tr n Th im N thực hiện phạm tội 02 l n trở lên nên phạm vào điểm g hoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại C quan điều tra cũng như tại phiên tòa, b cáo đ thành khẩn khai báo, n n n hối cải. B cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. B hại c đ n b i nại cho b cáo. X t đề ngh của đại diện Viện kiểm sát nh n d n huyện Củ Chi, x t tính chất và hành vi phạm tội của b cáo, Hội đồng x t xử áp dụng Điểm b, s hoản 1 Điều 51, hoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem x t giảm nhẹ cho b cáo ph n nào về hình phạt là c c n cứ.

Về hình phạt bổ sung:

B cáo không c việc làm ổn đ nh. Hội đồng x t xử x t không c n thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với b cáo theo quy đ nh tại Điều 32 và hoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng vụ án:

01 xe đạp gấp hiệu Jeep màu xanh; 01 cái giường gỗ sồi, kích thước 1,8 x2 mét; 01 cái bàn gỗ hình chữ nhật mặt kiếng có kích thước dài 1,1 m t, rộng 55cm, cao 50cm; 01 cái ghế gỗ dài 1,8 m t; 01 cái tủ gỗ sồi loại 4 cánh, kích thước 2x2 mét; 01 xe mô tô hiệu Honda SCR màu đen, biển số 51K5-1147, số máy WH150MH06L01558, số khung LWBTDH10761004666; 01 xe đạp đ a hình hiệu -TREMC màu xanh trắng. Quá trình điều tra đ trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng x t xử không x t.

Về nghĩa vụ d n sự:

Bà Nguyễn Giáng T là người b thiệt hại tài sản do hành vi phạm tội của b cáo g y ra. Tại phiên tòa, bà T vắng mặt nhưng hồ s thể hiện bà đ được bồi thường số tiền 22.000.000 đồng nên không yêu c u thêm. Hội đồng x t xử không xét.

Bà Nguyễn Th L là người mua tài sản của b cáo N. Khi b phát hiện, bà đ giao lại tài sản cho c quan công an. Tại phiên tòa, bà L vắng mặt nhưng hồ s thể hiện bà đ được bồi thường số tiền 4.100.000 đồng nên không yêu c u thêm. Hội đồng x t xử không x t.

Bà Võ Th Thanh là người mua tài sản của b cáo N. Khi b phát hiện, bà đ giao lại tài sản cho c quan công an. Tại phiên tòa, bà vắng mặt nhưng hồ s thể hiện bà đ được bồi thường số tiền 500.000 đồng nên không yêu c u thêm. Hội đồng x t xử không x t.

Bà Nguyễn Th Tú T là người b thiệt hại tài sản do hành vi phạm tội của b cáo N g y ra. Bà T1 vắng mặt nhưng hồ s thể hiện bà yêu c u b cáo bồi thường số tiền 1.400.000 đồng. Tại phiên tòa, b cáo tự nguyện bồi thường cho bà T1 số tiền nêu trên nên Hội đồng x t xử ghi nhận sự tự nguyện này để buộc b cáo bồi thường cho bà Nguyễn Th Tú T1.

Về các vấn đề khác:

B cáo Tr n Th im N dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt của bà Nguyễn Th Tú T1 số tiền 1.400.000 đồng. Hành vi nêu trên của b cáo N c dấu hiệu phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy đ nh tại Điều 174 của Bộ luật Hình sự nhưng không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. C quan cảnh sát điều tra công an huyện Củ Chi đ chuyển hồ s xử phạt vi phạm hành chính. Hội đồng x t xử thấy phù hợp nên không x t. Bà Nguyễn Th L và bà Võ Th Thanh là người mua tài sản của b cáo N. Bà L và bà không biết các tài sản trên do b cáo phạm tội mà c . C quan cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi loại trừ. Hội đồng x t xử x t xử lý trên là phù hợp nên không x t.

Về nghĩa vụ ch u án phí:

Buộc b cáo Tr n Th im N phải ch u án phí hình sự s thẩm và án phí d n sự s thẩm theo quy đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự và Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 n m 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố b cáo Tr n Th im N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

C n cứ vào hoản 1 Điều 173, Điều 38, Điểm b, s hoản 1 Điều 51, hoản 2 Điều 51, Điểm g hoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt b cáo Tr n Th im N 01 (một n m 3 ba tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 5 n m 2023.

C n cứ vào Điều 30 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589, Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật D n sự.

B cáo Tr n Th im N c trách nhiệm bồi thường cho bà Nguyễn Th Tú T1 số tiền 1.400.000 (một triệu bốn tr m nghìn) đồng.

ể từ ngày bà T1 c đ n yêu c u thi hành án nếu Tr n Th im N chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì Tr n Th im N phải trả l i đối với số tiền chậm trả tư ng ứng với thời gian chậm trả. L i suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy đ nh tại các Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật D n sự.

Thi hành tại C quan Thi hành án d n sự c thẩm quyền.

C n cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí n m 2015; Điểm a, Điểm c hoản 1 Điều 23 của Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 n m 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Án phí hình sự s thẩm 200.000 hai tr m nghìn) đồng buộc b cáo Tr n Th im N phải ch u.

Án phí d n sự s thẩm 300.000 (ba tr m nghìn đồng buộc b cáo Tr n Th im N phải ch u.

B cáo c mặt tại phiên tòa c quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với b hại, người c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa c quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án d n sự thì người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự c quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án d n sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật Thi hành án d n sự.

Cỡ chữ