vanban.org

Bản án 325/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 04/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt Nguyễn Văn N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án. Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn N trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BẮC TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 325/2020/HSST
Ngày: 04/12/2020

Toµ ¸n nh©n d©n QUẬN BẮC TỪ LIÊM, thµnh phè HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tống Quốc Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thúy Hậu; Bà Trần Thu Phương

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngọc Thúy, Thư ký

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận BắcTừ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh, Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 04 tháng 12 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 296/2020/HSST ngày 10 tháng 11 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 298/2020/QĐXX ngày 13/11/2020, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N, sinh năm 1989; Giới tính: N; ĐKNKTT và ở: xã C, TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1956 ; Con bà: Phạm Thị H, sinh năm 1963, Gia đình bị cáo có 3 anh, chị em, bị cáo là con thứ ba. Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân:

- Tại bản án số 49/2009/HSST ngày 19/8/2009 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 4 năm tù về tội Cướp tài sản (Đã được xóa án tích);

- Năm 2013 Công an huyện Mê Linh, TP Hà Nội ra lệnh truy nã số 32 ngày 05/10/2013 về tội trộm cắp tài sản;

- Ngày 07/8/2020 CA huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Quyết định khởi tố bị can về tội Trộm cắp tài sản.

Danh chỉ bản số 489 lập ngày 09/10/2019 tại Công an quận Bắc Từ Liêm.

Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh theo Quyết định tạm giam của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh – có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

1. Ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1968; HKTT: tổ dân phố Hạ 9, phường Tây Tựu, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội.

2. Anh Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1993; HKTT: khu 10, thị trấn Sông Thao, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

(Người bị hại đều vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn N và Dương Văn Điềm là bạn bè quen biết nhau do ở cùng khu nhà trọ tại phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội. Do thiếu tiền tiêu sài nên cả hai rủ nhau trộm cắp tài sản là xe máy và phân công N là người chuẩn bị vam phá khóa và cảnh giới còn Điềm là người phá khóa xe để trộm cắp, sau khi trộm cắp được sẽ mang xe đi bán, tiền sẽ chia đôi. Trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 7/2019, Dương Văn Điềm và Nguyễn Văn N đã cùng nhau thực hiện 8 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội rồi bán cho Phạm Văn Nguyên, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng đầu tháng 4/2019, Nguyễn Văn N cùng Dương Văn Điềm trộm cắp một xe máy Honda Wave màu trắng (không rõ đặc điểm cụ thể của xe) trên đường đê Liên Mạc thuộc phường Liên Mạc, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội (xe vẫn cắm chìa khóa). Sau đó cả hai mang xe về cửa hàng sửa chữa xe máy của Phạm Văn Nguyên tại tổ 8, phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội bán cho Nguyên, N nói đây là xe bị mất đăng ký xe, Nguyên mua với giá 3.000.000 đồng, N và Điềm mỗi người chia nhau 1.500.000 đồng. Sau đó, Nguyên đã bán lại cho khách (không xác định nhân thân, lai lịch) với giá 4.000.000 đồng. (Hiện không thu được xe vật chứng, chưa xác định được người bị hại).

Vụ thứ hai: Khoảng tháng 5/2019, Nguyễn Văn N cùng Dương Văn Điềm trộm cắp một xe máy Honda Wave màu xanh (không rõ đặc điểm cụ thể của xe) tại khu công nghiệp Trại Gà, phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội rồi mang xe đến bán cho Phạm Văn Nguyên và nói xe không có giấy tờ, Nguyên đồng ý mua xe với giá 3.000.000 đồng, N và Điềm mỗi người chia nhau 1.500.000 đồng. Sau khi mua được xe, Nguyên đã bán chiếc xe cho khách (không xác định nhân thân, lai lịch) với giá 4.200.000 đồng. (Hiện không thu được xe vật chứng, chưa xác định được người bị hại).

Vụ thứ ba: Khoảng tháng 6/2019, N cùng với Điềm trộm cắp một xe máy Honda Dream (không rõ đặc điểm cụ thể của xe) tại trước cửa nghĩa trang Phố Viên, thuộc phường Đức Thắng, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội rồi mang bán cho Nguyên. Lần này Nguyên có hỏi nguồn gốc xe thì N bảo đây là xe do trộm cắp mà có và Nguyên đồng ý mua với giá 2.500.000 đồng, N và Điềm mỗi người chia nhau 1.250.000 đồng. Sau đó Nguyên đã bán chiếc xe khách (không xác định nhân thân, lai lịch) với giá 3.000.000 đồng. (Hiện không thu được xe vật chứng, chưa xác định được người bị hại).

Vụ thứ tư: Khoảng đầu tháng 6/2019, N cùng với Điềm trộm cắp một xe máy Honda Wave màu đen (không rõ đặc điểm cụ thể của xe) tại khu vực khu đô thị Thành phố Giao Lưu, phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội. Sau đó cả hai mang xe đến bán cho Nguyên với giá 2.500.000 đồng, khi đó xe không lắp biển kiểm soát và Điềm bảo xe không có giấy tờ, Nguyên đồng ý mua chiếc xe với giá 2.500.000 đồng, N và Điềm mỗi người chia nhau 1.250.000 đồng. Sau khi mua được xe, Nguyên đã bán chiếc xe cho khách (không xác định nhân thân, lai lịch) với giá 3.800.000 đồng. (Hiện không thu được xe vật chứng, chưa xác định được người bị hại).

Vụ thứ năm: Khoảng đầu tháng 6/2019, N cùng với Điềm trộm cắp 01 xe Honda Wave màu trắng (không rõ đặc điểm cụ thể của xe) tại đường đê Liên Mạc, phường Liên Mạc, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội rồi mang đến cửa hàng của Nguyên bán cho Nguyên với giá 3.000.000 đồng, N và Điễm mỗi người chia nhau 1.500.000 đồng. Sau đó Nguyên đã bán chiếc xe khách (không xác định nhân thân, lai lịch) với giá 4.000.000 đồng. (Hiện không thu được xe vật chứng, chưa xác định được người bị hại).

Vụ thứ sáu: Khoảng đầu tháng 7/2019 Dương Văn Điềm cùng Nguyễn Văn N đi đến khu vực hồ Phú Diễn, phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội để tìm sơ hở trộm cắp tài sản. Khi đi đến số 123 hồ Phú Diễn thì phát hiện 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS 29L5-074.02, số khung 623724, số máy 5623826 của anh Nguyễn Đình Thanh (SN: 1968, HKTT: TDP Hạ 9, phường Tây Tựu, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội) dựng ở ngoài cửa, không có người trông giữ. N đứng cảnh giới cho Điềm dùng vam phá ổ khóa xe máy. Sau khi phá khóa xong, Điềm điều khiển xe chở N đi về cửa hàng sửa chữa xe máy của Nguyên bán cho Nguyên với giá 2.500.000 đồng, khi bán cho Nguyên xe không có biển kiểm soát. Số tiền bán được N và Điềm chia nhau mỗi người 1.250.000 đồng. (Vật chứng đã thu giữ được).

Vụ thứ bảy: Cũng khoảng đầu tháng 7/2019, Điềm cùng N đi lang thang đến khu vực khu đô thị TP Giao Lưu, phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội thì phát hiện 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream (không rõ BKS), số khung: 162144, số máy: 1666191. N đứng cảnh giới để Điềm dùng vam phá ổ khóa xe máy. Sau khi phá được ổ khóa, Điềm điều khiển xe chở N về cửa hàng sửa chữa xe máy của Nguyên bán với giá 3.500.000 đồng, mỗi người chia nhau 1.750.000 đồng. Sau khi mua chiếc xe trên, Nguyên đã lắp BKS 29G1-705.53 để sử dụng làm phương tiện đi lại. (Vật chứng đã thu giữ, đã đăng báo nhưng chưa xác định được người bị hại).

Vụ thứ tám: Khoảng 21h ngày 05/7/2019 N điều khiển xe máy Honda Dream (không có BKS) chở Dương Văn Điềm vào khu đô thị TP Giao Lưu , phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội thì phát hiện 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh BKS 19G1-045.40 của anh Nguyễn Xuân Thủy (SN: 1993, HKTT: khu 10, thị trấn Sông Thao, Cẩm Khê, Phú Thọ) để ở trước cổng khu tâm linh trong khu đô thị TP Giao Lưu. N đứng ở ngoài cảnh giới cho Điềm đi vào dùng vam phá ổ khóa xe. Sau khi phá xong, Điềm điều khiển xe vừa trộm cắp còn N điều khiển xe Dream đến cửa hàng của Nguyên và bán chiếc xe Wave vừa trộm cắp được 2.500.000 đồng, mỗi người chia nhau 1.250.000 đồng (Vật chứng đã thu giữ được).

Ngoài ra, ngày 08/7/2019, Dương Văn Điềm còn thực hiện trộm cắp 01 xe máy Honda Wave màu cam BKS 27B1-897.32 của anh Phạm Trung Hiếu (SN: 1999, HKTT: phường Mường Thanh, TP Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên) để ở ngoài cổng khu tâm linh, phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội.

Vật chứng thu giữ của Phạm Văn Nguyên:

- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, không có BKS, số khung 623724, số máy: 5623826, xe đã qua sử dụng.

- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS 19G1-04540, số máy 300355, số khung: 203479 đã qua sử dụng;

- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu cam, BKS 27B1-897.32, số khung: 110560, số máy: 2610620 đã qua sử dụng;

- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu lắp BKS 29G1-70553, số khung 162144, số máy: 1666191 đã qua sử dụng;

- 01 điện thoại nhãn hiệu Lenovo màu đen màn hình cảm ứng đã qua sử dụng;

- 01 đăng ký xe máy BKS 29G1-705.53 mang tên Nguyễn Khánh Toàn.

Ngày 26/7/2019, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Bắc Từ Liêm trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội giám định để xác định số khung, số máy đối với tất cả các xe máy đã thu giữ và ban hành yêu cầu định giá tài sản số 144/ĐTTH đề nghị định giá bốn chiếc xe máy đã thu giữ của Phạm Văn Nguyên.

Tại Bản Kết luận giám định số 5710/KL-PC09-Đ3 ngày 09/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận:

- Xe máy nhãn hiệu Honda Wave đeo biển kiểm soát 27B1-897.32 gửi giám định, hiện tại có số khung RLHHC1205AY110560 và số máy: HC12E-2610620 là số nguyên thủy;

- Xe máy nhãn hiệu Honda Wave đeo biển kiểm soát 19G1-045.40 gửi giám định hiện tại có số khung RLHHC1203BY203479 và số máy HC12E-3003551 là số nguyên thủy;

- Xe máy nhãn hiệu Honda Wave không đeo biển kiểm soát gửi giám định, hiện tại có số khung RLHHC1213DY623724 và số máy HC12E-5623826 là số nguyên thủy;

- Xe máy nhãn hiệu Honda Dream đeo biển kiểm soát 29G1-705.53 gửi giám định, hiện tại có số khung RLHHA080XAY162144 và số máy HA08E-1666191 là số nguyên thủy.

Tại Kết luận định giá tài sản số 124 ngày 12/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND quận Bắc Từ Liêm kết luận:

- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu cam bạc, BKS 27B1-897.32, số khung 110560, số máy 2610620 trị giá 12.000.000 đồng;

- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS 19G1-045.40, số khung 203479, số máy 3003551 trị giá 10.000.000 đồng;

- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, số khung 623724, số máy 5623826 trị giá 7.500.000 đồng;

- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, BKS 29G1-705.53, số khung 162144, số máy 1666191 trị giá 15.500.000 đồng.

Tổng giá trị của 04 xe máy nêu trên là 45.000.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định các xe máy thu giữ nêu trên là Phạm Văn Nguyên mua của Dương Văn Điềm và Nguyễn Văn N nên cơ quan điều tra đã mời Điềm, N đến làm việc và xác định các xe máy nêu trên là do Điềm và N trộm cắp rồi bán cho Phạm Văn Nguyên. Cơ quan điều tra đã thu giữ của N: 01 vam phá khóa bằng kim loại được mài nhọn một đầu, chiều dài khoảng 08 cm, đường kính 01 cm và 01 cờ lê 8 có chiều dài khoảng 12 cm, chiều rộng khoảng 01 cm

Đối với hành vi của Điềm cùng Nguyễn Văn N trộm cắp 5 xe máy rồi bán lại cho Phạm Văn Nguyên (vụ thứ nhất đến vụ thứ năm) hiện không thu hồi được xe vật chứng, không định giá được tài sản, cơ quan Cảnh sát điều tra đã đăng báo tìm người bị hại, vật chứng nhưng chưa xác định được. Ngoài lời khai của các đối tượng không có tài liệu nào khác chứng minh nên chưa đủ căn cứ để làm rõ năm vụ trộm cắp nêu trên.

Đối với chiếc xe máy Honda Wave màu đen, không có biển kiểm soát, số khung 623724, số máy: 5623826; Honda Wave màu xanh, BKS 19G1-04540, số máy 300355, số khung: 203479; Honda Wave màu cam, BKS 27B1-897.32, số khung: 110560, số máy: 2610620 đã thu giữ của Phạm Văn Nguyên: quá trình điều tra xác định đó là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Đình Thanh, anh Nguyễn Xuân Thủy và anh Phạm Trung Hiếu nên cơ quan điều tra đã trả lại xe. Những người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu lắp biển kiểm soát 29G1-705.53, số khung 162144, số máy: 1666191: đã được xử lý theo bản án số 51/2020/HSST ngày 04/5/2020 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội.

Tại bản án số 51/2020/HSST ngày 04/5/2020 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội xử phạt Phạm Văn Nguyên 12 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Tại Bản án số 203/2020/HSST ngày 19/8/2020, Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã xét xử Dương Văn Điềm 28 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra, do bị can Nguyễn Văn N bỏ trốn nên ngày 30/12/2019 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm ra Quyết định truy nã bị can đối với Nguyễn Văn N. Ngày 05/8/2020, Nguyễn Văn N bị cơ quan cảnh sát điều tra –Công an huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp về hành vi Trộm cắp tài sản. Ngày 23/9/2020, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm ra Quyết định đình nã, phục hồi điều tra vụ án, phục hồi điều tra bị can đối với Nguyễn Văn N.

Tại Bản cáo trạng số 306/CT-VKS ngày 09/11/2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kiểm sát viên phát biểu: giữ nguyên bản cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội Trộm cắp tài sản, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo với mức án từ 24 đến 30 tháng tù giam. Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo. Về dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét. Truy thu số tiền thu lời bất chính của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

(1) Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại, nên hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

(2) Nội dung vụ án như sau: Trong tháng 7/2019, Nguyễn Văn N cùng Dương Văn Điềm thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội gồm: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh lắp biển kiểm soát 19G1-045.40, số khung 203479, số máy 3003551 trị giá 10.000.000 đồng; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, số khung 623724, số máy 5623826 trị giá 7.500.000 đồng; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu lắp biển kiểm soát 29G1-705.53, số khung 162144, số máy 1666191 trị giá 15.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà N trộm cắp là 33.000.000 đồng.

Vì vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng … thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…”.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự và an toàn xã hội nên cần được xét xử nghiêm minh đúng pháp luật. Vì vậy cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

(3) Đánh giá tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Về các tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội nhiều lần nên áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân xấu và sau khi có quyết định khởi tố bị can, bị cáo đã bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo thể hiện, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã viện dẫn, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

(4) Về dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét.

(5) Về biện pháp tư pháp: Truy thu của bị cáo số tiền thu lời bất chính là 4.250.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự :

Xử phạt Nguyễn Văn N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

- Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn N.

2. Về biện pháp tư pháp: Truy thu của bị cáo số tiền thu lời bất chính là 4.250.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Cỡ chữ