- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Hồng K về việc ly hôn với anh Phạm Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 325/2019/HNGĐ-ST Ngày 27- 12- 2019 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Văn Công Trọn
2. Ông Trịnh Văn Điệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thêu- Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 27 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 718/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 430/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Hồng K, sinh năm 1979 (Xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp 10A, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau
- Bị đơn: Anh Phạm Văn C, sinh năm 1971 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 11/11/2019,và đơn xin vắng mặt ngày 21/11/2019, nguyên đơn chị Phạm Hồng K trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Phạm Hồng K và anh Phạm Văn C sống chung với nhau từ năm 2000, hôn nhân tự nguyện. Có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Lộc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau (theo giấy chứng nhận kết hôn số 49 ngày 08/5/2012). Nguyên nhân dẫn đến ly hôn là trong thời gian chung sống lúc đầu sống rất hạnh phúc, thời gian về sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cải với nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống chị và anh C đã ly thân hơn 06 năm nay. Xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, chị xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh C.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống chị K và anh C có 02 người con tên Phạm Việt K, sinh năn 2000 và Phạm Việt D, sinh ngày 18/6/2009. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Đ. Không yêu cầu anh C cấp dưỡng. Đối với Nguyễn Việt K đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung,nợ chung: Chị K xác định không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Phạm Văn C: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng nhưng anh Phạm Văn C vẫn vắng mặt tại tòa; không có văn bản nêu ý kiến gửi đến Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền của tòa án: Bị đơn anh Phạm Văn C có nơi cư trú tại ấp Kinh Tư, xã Khánh Lộc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Phạm Hồng K khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh Phạm Văn C, tranh chấp về nuôi con. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; chị K là người khởi kiện nên xác định tư cách đương sự chị K là nguyên đơn, anh C là bị đơn được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Chị K xin vắng mặt, anh C vắng mặt; Căn cứ theo khoản 1 Điều 227 và khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Hồng K và anh Phạm Văn C không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, chị K và anh C đã vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị và anh C đã ly thân hơn 06 năm nay. Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị K, cho chị K được ly hôn với anh C.
Về con chung: Chị K và anh C có 02 người con tên Phạm Việt K, sinh năn 2000 và Phạm Việt D, sinh ngày 30/12/2009. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Phạm Việt D. Không yêu cầu anh C cấp dưỡng. Đối với con tên Phạm Việt K đã trưởng thành không yêu cầu tòa án giải quyết.
Xét, con chung tên Phạm Việt D, sinh ngày 18/6/2009 hiện đang sống cùng với chị, gần gũi với chị và đang đi học, ổn định về thời gian, phát triển tốt về mọi mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình; Tiếp tục giao cháu Phạm Việt D cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng, phù hợp với ước nguyện của cháu Đ theo biên bản ghi nhận ý kiến ngày 21/11/2019. Anh C không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.
Về cấp dưỡng: Chị K không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng, anh C không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung và nợ: Chị K xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Buộc chị Phạm Hồng K phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình ly hôn theo khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Hồng K về việc ly hôn với anh Phạm Văn C.
-Về con chung: Tiếp tục giao cháu Phạm Việt D, sinh ngày 18/6/2009 cho chị K được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh C không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.
2. Về án phí: Chị Phạm Hồng K phải nộp số tiền 300.000 đồng; ngày 11/11/2019 chị K đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002857 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, nay được chuyển thu án phí.
3. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn; - THA DS huyện Trần Văn Thời; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Chí Công |