vanban.org

Bản án 324/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị M xin ly hôn với ông Nguyễn Minh V.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh T sinh ngày 17/8/2009 cho bà M tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về án phí: Bà Lê Thị M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Bà M đã nộp tạm ứng án phí 3… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị M - Nguyễn Minh V"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị M xin ly hôn với ông Nguyễn Minh V.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 324/2023/HNGĐ-ST
Ngày 15-12-2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ý

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoài Phong

Ông Hồ Thanh Phong

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Cẩm Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 15 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 481/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 348/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị M, sinh năm 1991 (xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh V, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp Hiệp H, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Lê Thị M trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Minh V tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2008 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, gia đình hai bên nhiều lần hòa giải hàn gắn nhưng không thành. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông V.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Minh T sinh ngày 17/8/2009 hiện đang sống chung với bà. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Tới, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận nên không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn đúng theo quy định pháp luật nhưng ông Nguyễn Minh V không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà Lê Thị M và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Tại biên bản ghi nhận ý kiến con chung ngày 17/11/2023 thể hiện cháu Nguyễn Minh T có nguyện vọng sống chung với bà M.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị M có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Minh V được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ pháp luật: Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Bà Lê Thị M và ông Nguyễn Minh V tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn ngày 28/4/2009 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau nên quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông V là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Bà M yêu cầu được ly hôn với ông V do mâu thuẫn vợ chồng gay gắt, trầm trọng đến mức không thể hàn gắn, cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục. Đối với ông V, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt, không có ý kiến đối với yêu cầu của bà M. Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa bà M và ông V đã trầm trọng, tình nghĩa vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà M về việc xin ly hôn với ông V.

Về con chung: Vợ chồng bà M và ông V có 01 con chung tên Nguyễn Minh T sinh ngày 17/8/2009 hiện đang sống chung với bà M. Tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 17/11/2023 thể hiện cháu Tới có nguyện vọng tiếp tục sống chung với bà M. Trên cơ sở xem xét điều kiện để phát triển về mọi mặt của con chung và nguyện vọng của con chung từ đủ 07 tuổi trở lên, đồng thời không làm thay đổi cuộc sống đã ổn định của cháu nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Nguyễn Minh T cho bà M tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà M không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà M không yêu cầu giải quyết, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, ông V không cung cấp tài liệu, chứng cứ và văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của bà M. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, trường hợp sau này các đương sự có tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.

Về án phí sơ thẩm: Bà M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị M xin ly hôn với ông Nguyễn Minh V.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh T sinh ngày 17/8/2009 cho bà M tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Về án phí: Bà Lê Thị M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Bà M đã nộp tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0000582ngày 16/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau được chuyển thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bà M, ông V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ