vanban.org

Bản án 324/2022/HSST — Hình sự

TAND Q. Hà Đông, TP. Hà Nội Tuyên án 08/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung Kphạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt Nguyễn Trung K 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 29/7/2022 đến ngày 4/8/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trung Kiên - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung Kphạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN N DÂN QUẬN H
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 324/2022/HSST
Ngày: 8/12/2022

N DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN N DÂN QUẬN H

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

* Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiểm

* Hội thẩm N dân: 1. Ông Nguyễn Cao Biền – Nguyên giáo viên, chánh thanh

tra sở giáo dục thành phố Hà Nội

2. Bà Nguyễn Thị Hạnh – Nguyên thẩm phán Tòa án N

dân thành phố Hà Nội

* Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án

* Đại diện Viện Kiểm Sát N dân quận Hà Đông: Bà Lê Thị Thu Huyền - Kiểm

sát viên.

Mở phiên tòa công khai vào hồi 8 giờ 00 phút ngày 8 tháng 12 năm 2022 tại

trụ sở Tòa án N dân quận H, thành phố Hà Nội để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 281/2022/HSST ngày 01/11/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 293/2022/QĐXX- TA ngày 18/11/2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Trung K(tên gọi khác: Không); Sinh ngày: 21/02/2006; giới tính :

Nam; HKTT: Thôn A, xã T, huyện S, TP. H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Văn L, sinh năm: 1975; Mẹ đẻ: Đỗ Thị C , sinh năm: 1978; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Năm 2021 bị Công an huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội về hành vi Trộm cắp tài sản, bằng hình thức Cảnh cáo (theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 441/QĐ-XPHC ngày 27/9/2021). N thân: Ngày 28/10/2022, bị Cơ quan CSĐT Công an huyện H, tỉnh B khởi tố bị can về tội: Cướp tài sản (Quyết định khởi tố bị can số221/QĐ ngày 28/10/2022) C:\Users\PCHOME\Desktop\ng trung kiên.TCTS. kiểm.docx

- 2 -

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/7/2022 đến ngày 04/8/2022 thì được thay đổi biện pháp ngăn chặn.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác theo lệnh tạm giam của Công an huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Có mặt

 Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Trung Klà ông Nguyễn Văn

L, sinh năm: 1975; Mẹ đẻ: Đỗ Thị C , sinh năm: 1978; trú tại: Thôn A, xã T, huyện S, TP. H. Có mặt

 Người bào chữa cho bị cáo K là Bà Nguyễn Thị Kim D- Trợ giúp viên

pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý thành phố Hà Nội. Có mặt

 Người bị hại:

1. Anh Trần Xuân T, sinh năm: 1999

HKTT: Thôn M , xã Y, huyện Y, tỉnh T

Chỗ ở: Số .., ngõ ... L , phường M, quận N, TP. H. Có mặt

2. Anh Quàng Văn Q , sinh năm: 2001.

HKTT: xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Vắng mặt

3. Anh Bùi Đức M, sinh năm: 2006

HKTT: xã H, huyện K, tỉnh H. Có mặt

Người đại diện hợp pháp của anh Bùi Đức M là ông Bùi văn H, sinh năm

1984 (bố đẻ của anh Bùi Đức M); trú tại: xóm Rộc, xã H, huyện K, tỉnh H . Có mặt

 Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan

1. anh Đinh Ngọc N, sinh năm: 2000. xin vắng mặt

HKTT: Xóm Đ, xã T, huyện S, TP. H.

2.anh Ngô Văn N,sinh năm: 1993. xin vắng mặt

3.Chị Nguyễn Thị Bích Q (là vợ của anh N). xin vắng mặt

HKTT: thôn N, xã H, huyện S, TP. H

4.Nguyễn Phương D, sinh năm: 2007. Xin vắng mặt

Trú tại: xã T , huyện S, TP. H

Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Phương D, sinh năm 2007 là ông

Nguyễn Văn Q, sinh năm 1986 (bố đẻ của anh Nguyễn Phương D); trú tại:

A, T, huyện S, TP. H. xin vắng mặt

2. Anh Đặng Văn T, sinh năm 2005. Xin vắng mặt

Trú tại: xã T , huyện S, TP. H

Người đại diện hợp pháp của anh Đặng Văn T, sinh năm 2005 là ông Đặng

Văn H, sinh năm 1976 (bố đẻ của anh Đặng Văn T); trú tại: S , T, huyện S,

TP. H. xin vắng mặt

- 3 -

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trung Klàm N viên phục vụ bàn tại quán ăn Mr.Cua, địa chỉ: Khu A-

42, Trung tâm thương mại TSQ, phường M, quận H, TP. Hà Nội từ ngày 12/7/2022.

Do không có tiền chi tiêu cá N, Nguyễn Trung K làm N viên phục vụ bàn tại

quán ăn Mr.Cua, địa chỉ: Khu A-42, Trung tâm thương mại TSQ, phường M, quận H, TP. Hà Nội đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của các N viên khác ở trong quán để lấy tiền chi tiêu cá N. Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 24/7/2022, sau khi hết giờ làm, K cùng các N viên khác ngủ trưa tại quán. Sau khi ngủ được khoảng 30 phút thì K tỉnh dậy, một mình đi vào khu vực bếp của quán xem ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Tại đây, K phát hiện thấy chiếc ba-lô của anh Trần Xuân T đang để ở trên nóc tủ. K kiểm tra bên trong thấy 01(một) chiếc chìa khóa xe máy, 01(một) ví da bên trong có số tiền 90.000 đồng tiền mặt, 01 (một) căn cước công dân, 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1, 02 (hai) thẻ ngân hàng đều mang tên Trần Xuân T và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô mang tên Phạm Văn T. Sau khi xem xong, K cất chìa khóa xe máy và ví da trên vào trong ba-lô rồi đi bộ lên tầng 3 của quán. Tại đây, K thấy anh Quàng Văn Q là N viên của quán, đang nằm ngủ trên đệm ở sàn nhà, bên cạnh anh Q để 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A15 màu xanh. Thấy anh Q đang ngủ say nên K đã lấy chiếc điện thoại của anh Q cất vào túi quần bên phải đang mặc rồi tiếp tục đi xuống tầng 2 của quán. Tại tầng 2, K thấy anh Bùi Đức M đang nằm ngủ trên ghế sofa cùng với anh Hùng, anh Đại (là N viên của quán, không rõ tên, tuổi địa chỉ cụ thể), bên cạnh anh Mạnh để 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Itel Vision 1 Pro màu xanh. Thấy mọi người đang ngủ say nên K đã lấy chiếc điện thoại trên của anh Mạnh cất vào túi quần bên phải đang mặc. Sau khi lấy được 02 (hai) điện thoại di động, K đi xuống bếp, lấy 01(một) chiếc ví da cùng 01(một) chìa khóa xe máy trong ba-lô của anh T cất vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi thẳng ra phía trước cửa quán nơi anh T để chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 36B6-785.58, màu đen bạc. K cắm chìa khóa vừa lấy được vào ổ khóa xe máy trên rồi mở khóa xe, nổ máy, đi về khu vực ngã ba Bình An, xã T , huyện S, TP. H. Trên đường đi, do xe máy hết xăng nên K đã lấy 90.000 đồng trong ví da trộm cắp được của anh T mua xăng để đi.

Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, K một mình đi đến cửa hàng điện thoại

Ngọc Anh store ở thôn B, xã T, huyện S, thành phố H, bán chiếc điện thoại Oppo A15 trộm cắp được cho anh Đinh Ngọc N lấy số tiền 1.000.000 đồng. Còn chiếc

- 4 -

điện thoại di động Itel Vision 1 Pro màu xanh, K tháo bỏ sim và giữ lại chiếc điện thoại để sử dụng.

Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 25/7/2022, K dùng tài khoản facebook mang tên

“Lê Anh Việt”, liên hệ với anh Ngô Văn N là người chuyên mua bán xe máy cũ) sử dụng tài khoản facebook mang tên “Nhan map”, để trao đổi về việc mua bán chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 36B6-785.58, màu đen bạc. K gửi cho anh N xem một đoạn video về chiếc xe trên rồi hai bên hẹn 08 giờ sáng cùng ngày gặp tại khu vực phố Nỉ, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn gần nhà nghỉ Quang Anh để thực hiện giao dịch mua bán xe máy. Sau đó, K rủ bạn là Nguyễn Phương D và Đặng Văn T, cùng trú tại: xã T , huyện S, TP. H đi ăn sáng, sau đó K đến gặp anh N để bán xe. Đến khoảng 08 giờ 00 phút sáng cùng ngày, K gặp N tại khu vực gần nhà nghỉ Quang Anh. Tại đây, K thoản thuận bán chiếc xe máy Honda Wave, BKS: 36B6-785.58, màu đen bạc của anh Trần Xuân T cho anh N lấy số tiền 11.000.000 đồng. Khi mua bán, K viết một giấy bán xe đồng thời giao xe máy cho anh N kèm theo 01(một) chìa khóa xe, 01(một) giấy đăng ký xe mang tên Phạm Văn T, số giấy tờ còn lại trong ví da trộm cắp được, K để trong cốp xe máy giao cho anh N. Lúc này, do anh N không đủ tiền mặt để thanh toán nên đề nghị chuyển khoản, K đồng ý và nhờ Duy nhận hộ số tiền thanh toán trên vì K không có tài khoản ngân hàng, Duy đồng ý. Sau đó, anh N đã chuyển khoản số tiền 11.000.000 đồng mua xe từ tài khoản Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank) số: 109002841877 mang tên Nguyễn Thị Bích Q (là vợ của anh N) đến tài khoản Ngân hàng TMCP Quân đội (MB Bank) số: 56782075678 mang tên Nguyễn Phương D. Do Duy không có điện thoại và không có nhu cầu sử dụng tài khoản ngân hàng trên nên Duy đã cho K số tài khoản và mật khẩu ứng dụng Internetbanking của tài khoản ngân hàng trên để K đi rút tiền. Sau đó, K sử dụng tài khoản Ngân hàng trên của Duy để nạp tiền mua, bán đồ trong game và chi tiêu cá N, còn lại số tiền 800.000 đồng. Sau khi mua được chiếc xe của K , anh N đã bán lại chiếc xe cho người không quen biết lấy số tiền 12.500.000 đồng.

Ngày 24/7/2022, anh Quàng Văn Q , anh Bùi Đức M và anh Trần Xuân T đã

đến Công an phường M, quận H trình báo về việc bị trộm cắp tài sản và đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ngày 28/7/2022, Nguyễn Trung Kra đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi

phạm tội của bản thân.

Vật chứng của vụ án đã thu giữ: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel

Vision 1 Pro, số Imei 1: 354348678174686, số Imei 2: 354348678174694; đã qua sử dụng, là tài sản Nguyễn Trung Kđã chiếm đoạt của anh Mạnh và số tiền 800.000

- 5 -

đồng (loại tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang lưu hành) do Nguyễn Trung Kgiao nộp; 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A15 màu xanh, số Imei 1: 866983054414636, số Imei 2: 86698305414628, đã qua sử dụng, là tài sản Nguyễn Trung Kđã chiếm đoạt của anh Q, do anh Đinh Ngọc N tự nguyện giao nộp;

Vật chứng của vụ án chưa thu giữ được: 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu

Honda Wave, màu trắng đen bạc, BKS: 36B6-785.58, số máy: JA39E0729023, số khung: RLHJA3904HY748821; 01(một) chiếc ví da bên và các giấy tờ gồm: 01(một) căn cước công dân, 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1, 02 (hai) thẻ ngân hàng đều mang tên Trần Xuân T; 01(một) giấy đăng ký xe mô tô mang tên Phạm Văn T và số tiền 90.000 đồng (loại tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang lưu hành) là tài sản K chiếm đoạt của anh T.

Ngày 28/7/2022, Cơ quan CSĐT Công an quận Hà Đông ra Yêu cầu định giá

tài sản số 183 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hà Đông xác định trị giá đối với những tài sản Nguyễn Trung K đã chiếm đoạt nêu trên.

Tại Kết luận định giá tài sản số 157 ngày 28/7/2022 của Hội đồng định giá tài

sản trong tố tụng hình sự quận Hà Đông, kết luận: “01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS 36B6-785.58, màu đen bạc, đã qua sử dụng, trị giá 8.000.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A15 màu xanh, đã qua sử dụng, trị giá 2.000.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel Vision 1 Pro, đã qua sử dụng, trị giá 1.800.000 đồng.Tổng giá trị tài sản là 11.800.000 đồng (Mười một triệu tám trăm nghìn đồng)”.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 36B6-785.58, màu đen

bạc: Quá trình điều tra xác định, chiếc xe máy trên đăng ký mang tên ông Phạm Văn T (sinh năm: 1962, HKTT: Xã Yên Tâm, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa). Năm 2019, ông T đã bán chiếc xe máy trên cho anh Trần Xuân T và bàn giao giấy tờ xe. Sau khi K trộm cắp được chiếc xe máy trên của anh T và bán cho anh Ngô Văn N thì anh N đã bán lại chiếc xe này cho một người đàn ông không quen biết với giá 12.500.000 đồng. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm vật chứng đối với chiếc xe máy Honda Wave, BKS: 36B6-785.58 nhưng chưa có kết quả.

Đối với 02(hai) chiếc điện thoại di động K trộm cắp được của anh Quàng Văn

Q và anh Bùi Đức M; ngày 30/9/2022, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A15 màu xanh; trả lại cho anh Mạnh 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel Vision 1 Pro. Anh Q và anh M đã nhận lại những tài sản trên và không có ý kiến gì.

- 6 -

Với hành vi trên, Cáo trạng số 280/CT-HS ngày 30/10/2022 của Viện kiểm sát

N dân quận Hà Đông truy tố Nguyễn Trung Kvề tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và

đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt Nguyễn Trung Ktừ 12 đến 15 tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: người bị hại là anh Q, anh Mạnh đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì nên không đề nghị xem xét; đối với tài sản bị cáo chiếm đoạt được của anh Trần Xuân T, đề nghị buộc bị cáo bồi thường trả lại giá trị tài sản chiếc xe máy là 8.000.000 đồng và số tiền 90.000 đồng; về tang vật đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 800.000 đồng; buộc bị cáo nộp tiền thu lời bất chính là 3.200.000 đồng;

Người bào chữa cho bị cáo K đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ

hình phạt cho bị cáo K bởi bị cáo là người chưa thành niên nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú và thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi vi phạm của mình; đề nghị Hôi đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

Bị cáo xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn

diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên và bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Hội

đồng xét xử thấy quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn

bộ hành vi vi phạm của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tang vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ chứng minh có trong hồ sơ vụ án.

- 7 -

Do vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 24/7/2022, tại quán ăn Mr.Cua ở Khu A-42, Trung tâm thương mại TSQ, phường M, quận H, TP. Hà Nội, Nguyễn Trung Kđã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của người khác, lén lút chiếm đoạt tài sản 01(một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng đen bạc, BKS: 36B6-785.58 trị giá 8.000.000 đồng và số tiền 90.000 đồng tiền mặt và các giấy tờ cá N gồm: 01(một) căn cước công dân, 01(một) giấy phép lái xe hạng A1, 02(hai) thẻ ngân hàng đều mang tên Trần Xuân T và 01(một) giấy đăng ký xe mô tô mang tên Phạm Văn T) đựng bên trong chiếc ví da cũ của anh Trần Xuân T; chiếm đoạt 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel Vision 1 Pro trị giá 1.800.000 đồng của anh Bùi Đức M; chiếm đoạt 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A15 màu xanh trị giá 2.000.000 đồng của anh Quàng Văn Q ; Tổng giá trị tài sản Nguyễn Trung Kđã chiếm đoạt là 11.890.000 đồng.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Trung Kđã phạm tội Trộm cắp tài sản; tội

phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát N dân quận Hà Đông truy tố Nguyễn Trung Ktheo tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi nêu trên của bị cáo không những xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu

tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn quận Hà Đông; gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng N dân.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án này

thấy: bị cáo tuy tuổi đời còn trẻ nhưng không chịu tu dưỡng bản thân, đã ba lần lợi dụng sơ hở chiếm đoạt ba tài sản của ba người bạn làm cùng, hành vi vi phạm nêu trên của bị cáo thuộc trường hợp tăng nặng “phạm tội từ hai lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo có N thân xấu: ngày 27/9/2021 bị Công an huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội về hành vi Trộm cắp tài sản, bằng hình thức Cảnh cáo, chưa được xóa; ngày 28/10/2022, Nguyễn Trung Ktiếp tục bị Cơ quan CSĐT Công an huyện H, tỉnh B khởi tố bị can về tội Cướp tài sản. Do vậy cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài nhằm giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét đến thái độ khai báo

thành khẩn, sau khi phạm tội bị cáo đã tự giác ra đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình; tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội và đưa vụ án ra xét xử, bị cáo là người chưa thành niên nên nhận thức pháp luật cũng như năng lực hành vi còn hạn chế….. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

- 8 -

Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là

phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với 02(hai) chiếc điện thoại di động K trộm

cắp được của anh Quàng Văn Q và anh Bùi Đức M. Cơ quan điều tra đã thu hồi 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel Vision 1 Pro do bị cáo K tự nguyện giao nộp và 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A15 màu xanh do anh Đinh Ngọc N giao nộp. Ngày 30/9/2022, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A15 màu xanh; trả lại cho anh Mạnh 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel Vision 1 Pro. Anh Q và anh Mạnh đã nhận lại những tài sản trên và không có ý kiến gì về phần trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng đen bạc,

BKS: 36B6-785.58 K chiếm đoạt được của anh Trần Xuân T, sau đó đem bán, hiện không thu hồi được tang vật. Nay anh T yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại, hội đồng xét xử thấy yêu cầu bồi thường thiệt hại của anh T là hợp pháp có căn cứ nên chấp nhận. Do bị cáo là người chưa thành niên, tài sản bị cáo chiếm đoạt không thu hồi được nên buộc bị cáo K và gia đình bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho anh T toàn bộ giá trị chiếc xe máy bị cáo đã chiếm đoạt của anh T theo giá hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự đã T hành định giá là 8.000.000 đồng và số tiền 90.000 đồng bị cáo đã chiếm đoạt của anh T. Như vậy, tổng số tiền bị cáo K và gia đình phải bồi thường thiệt hại cho anh T là 8.090.000 đồng.

Đối với số tiền thu lời bất chính, Hội đồng xét xử thấy: Sau khi chiếm đoạt

điện thoại, xe máy; K bán điện thoại và xe máy được 12.000.000 đồng và 90.000 đồng bị cáo lấy trong ví của anh T, sau đó sử dụng ăn tiêu và tự nguyện nộp lại 800.000 đồng.Như vậy, Đối trừ số tiền bị cáo bồi thường trả anh T là 8.090.000 đồng và 800.000 đồng bị cáo tự nguyện nộp khi ra đầu thú cần buộc bị cáo phải nộp 3.200.000 đồng tiền thu lời bất chính để tịch thu sung quỹ nhà nước

Đối với anh Đinh Ngọc N và anh Ngô Văn N là người đã mua của K chiếc

điện thoại di động Oppo A15 màu xanh và chiếc xe máy Honda Wave, BKS: 36B6-785.58, màu đen bạc. Cơ quan điều tra đã T hành điều tra xác định, khi mua điện thoại và xe máy, anh Ninh và anh N không biết các tài sản trên do K phạm tội mà có nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đinh Ngọc N và Ngô Văn N về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ, đúng pháp luật.

Do anh Đinh Ngọc N đã tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại Oppo A15 màu

xanh cho cơ quan điều tra và không đề nghị, yêu cầu gì về phần bồi thường thiệt hại nên Tòa án không đề cập giải quyết;

- 9 -

Đối với anh Ngô Văn N, quá trình điều tra anh N và bị cáo K đều khai nhận

hai bên mua bán chiếc xe máy Honda Wave, BKS: 36B6-785.58, màu đen bạc giá là 11.000.000 đồng. Anh N khai sau khi mua chiếc xe trên anh K đã bán lại cho người khác giá là 12.500.000 đồng. Nay anh N không có yêu cầu đề nghị gì nên Tòa không xét

Đối với Nguyễn Phương D và Đặng Văn T là người cùng K đi bán xe máy

Honda Wave, BKS: 36B6-785.58. Cơ quan điều tra đã T hành điều tra xác định: Duy và Thơm không biết chiếc xe máy trên do K trộm cắp mà có. Khi bán xe, K không có tài khoản nên đã mượn tài khoản Ngân hàng TMCP Quân đội (MB Bank) của Duy để nhận tiền mua xe từ anh N đồng thời sử dụng tài khoản này để thanh toán chi tiêu cá N. K không cho Duy và Thơm khoản tiền nào từ việc bán chiếc xe máy trên nên không có căn cứ để xử lý. Cơ quan điều tra đã T hành giáo dục, nhắc nhở đối với Duy và Thơm là thỏa đáng.

7] Về tang vật: 800.000 đồng là tiền thu lợi bất chính nên tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí: bị cáo vi phạm pháp luật nên phải nộp án phí theo quy định của

pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g

khoản 1 Điều 52; Điều 91; 101; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 584; 585; 589 Bộ luật dân sự năm 2015

- Căn cứ Điều 106; Điều 331, Điều 333, Điều 336 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Căn cứ Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ

Quốc hội

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung Kphạm tội “Trộm cắp tài sản”

2. Xử phạt Nguyễn Trung K 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày

bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 29/7/2022 đến ngày 4/8/2022.

3. Về tang vật:

Tịch thu, sung quỹ nhà nước 800.000 đồng tiền thu lời bất chính (theo giấy

nộp tiền vào tài khoản tại kho bạc nhà nước quận Hà Đông, TP. Hà Nội)

4.Buộc bị cáo Nguyễn Trung Kvà gia đình phải bồi thường trả anh Trần

Xuân T số tiền 8.090.000 đồng;

5. Buộc bị cáo Nguyễn Trung Knộp 3.200.000 đồng tiền thu lời bất chính

sung quỹ nhà nước

6.Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 404.500 đồng án

phí dân sự

7. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa, người bị hại,

người đại diện của người bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn

- 10 -

15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

ƠƠ

Cỡ chữ