- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hồng S - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm a, b hoản 1 Điều 355, điểm d khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 21/12/2016 của Uỷ ban th ờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 324/2019/HSPT Ngày: 12 – 11 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Thẩm phán: Ông Y Phi Kbuôr
Ông Trần Anh Tuấn
-Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Anh– h
Toà án nhân dân tỉnh Đắ Lắ .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông D ơng Văn Đức- Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở òa án nhân dân tỉnh Đắ Lắ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ l số: 335/2019/TLPT-HS ngày 14 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo Lê Hồng S phạm tội “C ý gây th ng tích”. Do có háng cáo của bị cáo và ng ời bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2019/HS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2019 của òa án nhân dân huyện Lắ , tỉnh Đắk Lắk.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Lê Hồng S, sinh năm 1995 tại tỉnh hanh Hóa; nơi c trú: hôn P, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn và bà rần hị N; có vợ là Nguyễn Hoàng Bích P và 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 18/4/2014 bị òa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 02 năm tù về tội “ Cố gây th ơng tích”.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
* Ng ời bị hại:
Anh Bùi Chí T, sinh năm 1996; địa chỉ: Đ ờng N, ph ờng T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk ( Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:
Vào khoảng 13h30 ngày 29/12/2018, Bùi Chí T, sinh năm 1996 và Bùi Chí T1, sinh năm 1993, cùng trú tại ph ờng T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, cùng một số bạn bè gồm: Nguyễn Thành T2, Đinh Văn T3, Nguyễn Hoài N, Vụ Văn D, Phạm Ngọc P, rủ nhau đi đến quán Hội quán K, tại buôn P, xã K, huyện L, tỉnh Đắk Lắk để uống r ợu. Đến khoảng gần 18 giờ cùng ngày, T và T1 cùng nhóm bạn uống r ợu xong, đã thanh toán tiền rồi cả nhóm ra về. Khi đi ra đến khu vực nhà bếp của quán, T1 xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, xô xát với một cô gái tên M (ch a xác định đ ợc họ tên, địa chỉ) là hách đến quán ăn tối. Thấy vậy, nhóm thanh niên đi cùng M gồm: Lê Hồng S, Nguyễn Văn N1, sinh năm 2001, cùng trú tại thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng và Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1995, trú tại thôn Đ, xã , huyện L, tỉnh Lâm Đồng đi lại xem. Thấy M cãi vã, xô xát với T1 thì S cầm chày kim loại, N1 cầm ghế, Q cầm một cái cối kim loại (các đồ vật có sẵn trong quán) cùng nhau xông vào đánh vào ng ời T1. Q dùng cái cối bằng kim loại đánh một phát trúng vào đầu T1 làm T1 bị th ơng máu chảy trên đầu. Lúc này, nhóm bạn đi cùng T1 vào can ngăn nên nhóm của S, Q, N1 hông đánh T1 nữa mà quay về bàn ăn của mình. Sau đó, T và T1 cùng nhóm bạn đi ra ngoài đ ờng, do bực tức về việc T1 bị đánh nên Bùi Chí T đã chạy đến cửa hàng tạp hóa B lấy đ ợc 03 con dao nhỏ (loại dao Thái Lan màu vàng) rồi chạy lại chỗ của T1. T cầm hai tay 02 con dao và đ a cho T1 cầm 01 con dao rồi cả hai quay lại quán Hội quán K để tìm đánh lại nhóm của S, Q, N1. Do đã uống r ợu say nên khi chạy đến cổng quán hội quán K thì cả T và T1 đều bị vấp té ngã. Thấy T và T1 cầm dao đi vào quán để tìm đánh mình thì S, Q, N1 cùng đứng dậy rồi bỏ chạy tản ra ngoài. S chạy thẳng về khu vực nhà xe của nhà nghỉ MH ở khu vực gần đó lấy 02 con dao mã tấu đ ợc S cất giấu sẵn tại đây từ tr ớc và cầm dao chạy ra ngoài đ ờng. Q chạy phía sau S cũng chạy về h ớng nhà nghỉ MH lấy 01 cái quốc và cầm quốc chạy ra đ ờng. Khi chạy ra ngoài đ ờng phía tr ớc nhà nghỉ MH, S nhìn thấy Bùi Chí T đang cầm 02 con dao trên tay nên xông tới chém một nhát trúng vào bàn tay phải của T, T quay đầu bỏ chạy thì bị S chém tiếp một nhát nữa trúng vào phần l ng. Bùi Chí T1 cũng bị một ng ời (ch a xác định đ ợc họ tên) chạy từ trong nhà nghỉ MH ra dùng hung khí đánh trúng mu bàn tay trái. Sau đó, S, Q tiếp tục đi vào quán Hội quán K để tìm những ng ời còn lại trong nhóm của T nh ng hông thấy ai. Nên nhóm của S, Q, N1 cùng với M đi ra hỏi quán rồi đi vòng ra đ ờng buôn P. Khi đi đến khu v ờn cà phê ven đ ờng thì S và Q mang 02 con dao mã tấu và 01 chiếc quốc cất dấu vào gốc cây cà phê. Sau đó, cả nhóm đi về h ớng xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Còn Bùi Chí T và Bùi Chí T1 đ ợc bạn bè đ a đi sơ cứu vết th ơng tại trạm y tế xã Đ. Sau đó đ ợc các anh T2, T3, P thuê xe ô tô đ a đi cấp cứu tại Bệnh viện đa hoa vùng ây Nguyên.
Ngày 06/03/2019, Cơ quan điều tra Công an huyện Lắk ra Quyết định tr ng cầu giám định tỉ lệ tổn th ơng cơ thể và cơ chế hình thành th ơng tích đối với các th ơng tích của Bùi Chí T và Bùi Chí T1. Tại bản kết luận giám định pháp y th ơng tích số 330, 331/PY-TgT ngày 07/03/2018 của rung tâm pháp y Đắk Lắk kết luận:
+ h ơng tích của Bùi Chí T: Vết th ơng bàn tay, mất đốt xa ngón 1 và mắt chém đốt gần, nền đốt giữa ngón 3, 4 tay phải: 22%; vết th ơng l ng 4%. ổng tỷ lệ th ơng tích: 26%. Vật tác động: Sắc bén.
+ h ơng tích của Bùi Chí T1: Vết th ơng bàn tay trái, gãy x ơng bàn 2,3, đứt gân duỗi ngón 2,3,4: 12%. Vật tác động: Sắc bén. Vết th ơng đầu: 2%, vật tác động cứng tày. Tổng tỷ lệ th ơng tích: 14%.
Đối với hành vi sử dụng cối, chày và ghế đánh vào ng ời anh Bùi Chí 1 gây tổn th ơng cơ thể với tỉ lệ 2% trong Hội quán K của Lê Hồng S, Nguyễn Hồng Q và Nguyễn Văn N1. Quá trình điều tra, S và N1 đã hỗ trợ các chi phí điều trị th ơng tích cho anh T1 với số tiền 5.000.000 đồng, anh 1 đã tự nguyện viết đơn hông yêu cầu xử l trách nhiệm hình sự đối với hành vi nêu trên của Lê Hồng S, Nguyễn Hồng Q và Nguyễn Văn N1. Nên Cơ quan điều tra đã căn cứ điểm e Khoản 3 Điều 5 Nghị Định 167/NĐ – CP ngày 12/11/2013 để ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi của Lê Hồng S, Nguyễn Hồng Q và Nguyễn Văn N1, là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với các th ơng tích gồm: Vết th ơng bàn tay trái, gãy x ơng bàn 2,3 đứt gân duỗi ngón 2,3,4, với tổn th ơng cơ thể tỉ lệ 12% và yêu cầu bồi th ờng dân sự với số tiền 115.831.000 đồng của Bùi Chí T1. Căn cứ các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án, cơ quan điều tra ch a xác định đ ợc đối t ợng nào, sử dụng hung hí gì để gây ra th ơng tích cho anh T1. Ngoài ra do đối t ợng Nguyễn Hồng Q đã bỏ trốn khỏi địa ph ơng sau hi xảy ra vụ việc, cơ quan điều tra ch a thu thập đ ợc lời khai của đối t ợng này và do thời hạn điều tra của vụ án đã hết nên Cơ quan điều tra ra quyết định tách vụ án và tỉ lệ tổn th ơng cơ thể của Bùi Chí T1, cùng với số tiền yêu cầu bồi th ờng của anh T1 để tiếp tục điều tra và xử lý bằng một vụ án độc lập hi có đủ tài liệu, chứng cứ và thu thập đ ợc lời khai của đối t ợng Nguyễn Hồng Q, vì vậy hông đặt ra giải quyết trong vụ án này.
Tại bản án số 15/2019/HSST ngày 27/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ vào điểm đ, hoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Hồng S phạm tội “Cố gây th ơng tích”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Hồng S 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù đ ợc tính từ ngày bắt thi hành án.
Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 Bộ Luật hình sự và Điều 590 Bộ luật dân sự.
- Công nhận sự thỏa thuận: Bị cáo Lê Hồng S phải bồi th ờng cho anh Bùi Chí T số tiền chi phí điều trị tại các bệnh viện và các khoản chi phí hợp lý khác liên quan đến việc chữa trị th ơng tích là: 84.545.992 đồng.
- Buộc bị cáo Lê Hồng S phải bồi th ờng cho anh Bùi Chí T số tiền tổn thất về tinh thần là 29.800.000 đồng.
Tổng cộng hai khoản: 114.345.992 đồng (Một trăm m ời bốn triệu, ba trăm bốn m ơi lăm ngàn, chín trăm chín m ơi hai đồng)
Đã bồi th ờng đ ợc: 30.000.000 đồng (Ba m ơi triệu đồng).
Bị cáo Lê Hồng S còn phải bồi th ờng cho anh Bùi Chí T số tiền là: 84.345.992 đồng ( ám m ơi bốn triệu, ba trăm bốn m ơi lăm ngàn, chín trăm chín m ơi hai đồng).
Kể từ ngày có đ n yêu cầu thi hành án của ng ời đ ợc thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của s tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo và các đ ơng sự theo quy định
Ngày 04/9/2019, bị cáo Lê Hồng S háng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và giảm số tiền bồi th ờng, cụ thể xem xét giảm cho bị cáo các hoản:
Chi phí đi lại để điều trị th ơng tích, chi phí ăn uống tại các bệnh viện, tiền thu nhập thực tế bị mất của ng ời chăm sóc ng ời bị hại trong thời gian điều trị, tiền thu nhập thực tế bị mất của ng ời bị hại trong thời gian điều trị và trong thời gian hông lao động đ ợc.
Ngày 10/9/2019, ng ời bị hại Bùi Chí
háng cáo đề nghị tăng tiền bồi th ờng bù đắp tổn thất tinh thần lên 60.000.000 đồng.
ại phiên tòa bị cáo vẫn giữ yêu cầu háng cáo, ng ời bị hại Bùi Chí rút háng cáo hông yêu cầu òa án xem xét.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện iểm sát nhân dân tỉnh Đắ Lắ đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, hậu quả gây ra đối với hành vi phạm tội của bị cáo Lê Hồng S và cho rằng oà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “ C ý gây th ng tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ. Mức hình phạt 03 năm tù mà òa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo là phù hợp, t ơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. òa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo hông cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hông chấp nhận háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
Đối với háng cáo của bị cáo đề nghị xem xét giảm cho bị cáo các hoản: Chi phí đi lại để điều trị th ơng tích, chi phí ăn uống tại các bệnh viện, tiền thu nhập thực tế bị mất của ng ời chăm sóc ng ời bị hại trong thời gian điều trị, tiền thu nhập thực tế bị mất của ng ời bị hại trong thời gian điều trị và trong thời gian hông lao động đ ợc thì thấy rằng: Mức bồi th ờng thiệt hại mà cấp sơ thẩm buộc bị cáo có trách nhiệm bồi th ờng cho anh Bùi Chí số tiền chi phí điều trị tại các bệnh viện và các khoản chi phí hợp lý hác liên quan đến việc chữa trị th ơng tích là: 84.545.992 đồng, tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là 29.800.000 đồng. Tổng cộng số tiền phải bồi th ờng là 114.345.992 đồng là phù hợp nên kháng cáo của bị cáo đề nghị giảm tiền bồi th ờng là hông có căn cứ.
Đối với kháng cáo của bị hại Bùi Chí T đề nghị tăng tiền bồi th ờng bù đắp tổn thất tinh thần lên 60.000.000 đồng. ại phiên tòa ng ời bị hại đã rút háng cáo nên đình chỉ xét xử đối với háng cáo của ng ời bị hại.
Các quyết định hác của bản án sơ thẩm hông có háng cáo, hông bị háng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, ể từ ngày hết thời hạn háng cáo háng nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
rên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:
Lời khai của bị cáo, ng ời bị hại tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã đ ợc thu thập có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm. Nh vậy đủ cơ sở kết luận, xuất phát từ ý thức coi th ờng pháp luật, coi th ờng sức khỏe của ng ời khác nên vào ngày 29/12/2018, bị cáo Lê Hồng S đã dùng mã tấu chém gây th ơng tích 26% cho anh Bùi Chí . Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Hồng S về tội “Cố gây th ơng tích” theo điểm đ hoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét mức hình phạt 03 năm tù mà òa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là t ơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Bởi lẽ, bị cáo có nhân thân xấu, ngày 18/4/2014 bị òa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 02 năm tù về tội “ Cố gây th ơng tích” nh ng bị cáo vẫn hông chịu lấy đó làm bài học để tu d ỡng rèn luyện bản thân nay tiếp tục phạm tội. Cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo không cung cấp thêm đ ợc tình tiết giảm nhẹ nào mới nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Xét kháng cáo xin giảm mức bồi th ờng thiệt hại của bị cáo và kháng cáo tăng mức bồi th ờng về bù đắp tổn thất tinh thần của ng ời bị hại. Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về nội dung kháng cáo của bị cáo:
- Đối với chi phí đi lại để điều trị th ơng tích của anh Bùi Chí T trong thời gian điều trị (gồm 02 ng ời) đã có hóa đơn chứng từ, với số tiền 4.830.000 đồng nh cấp sơ thẩm đã quyết định là hợp lý. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận đối với nội dung kháng cáo này của bị cáo.
- Đối với khoản tiền ăn uống tại các bệnh viện trong thời gian điều trị (02 ng ời) nh òa án cấp sơ thẩm đã buộc bị cáo phải bồi th ờng cho ng ời bị hại là 4.300.000 đồng là không phù hợp quy định của pháp luật. Hơn nữa, òa án cũng đã buộc bị cáo phải bồi th ờng tiền thu nhập thực tế bị mất của ng ời bị hại, ng ời chăm sóc ng ời bị hại nên bị hại yêu cầu khoản tiền ăn uống là không hợp lý. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận nội dung kháng cáo này của bị cáo.
- Đối với khoản tiền thu nhập thực tế bị mất của ng ời chăm sóc ng ời bị hại trong thời gian điều trị (ông Bùi Hữu Toàn, bố của ng ời bị hại) là 6.300.000 đồng là phù hợp. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng cáo này của bị cáo.
- Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định giá trị ngày công lao động của ng ời bị hại Bùi Chí là 300.000 đồng/ngày. uy nhiên, quá trình điều tra anh T không cung cấp đ ợc căn cứ về mức thu nhập này. Tại biên bản làm việc ngày 06/11/2019, anh cũng xác định rằng không cung cấp đ ợc các tài liệu làm căn cứ chứng minh nguồn thu nhập của mình tại thời điểm bị thiệt hại. Tại phiên tòa bị cáo và bị hại thống nhất mức thu nhập ng ời bị hại là 200.000 đồng/ ngày. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung kháng cáo này của bị cáo và xác định lại mức thu nhập của ng ời bị hại với mức 200.000đồng/ngày là phù hợp.
Nh vậy, cần buộc bị cáo Lê Hồng S phải bồi th ờng cho ng ời bị hại những khoản tiền cụ thể sau:
- Tiền chi phí điều trị tại Bệnh viện là 25.815.992 đồng.
- Tiền chi phí đi lại trong thời gian điều trị là 4.830.000 đồng.
- Tiền thu nhập thực tế bị mất của ng ời chăm sóc ng ời bị hại trong thời gian điều trị là 6.300.000 đồng.
- Tiền thu nhập thực tế bị mất của ng ời bị hại trong thời gian điều trị là 200.000đ/ngày x 21 ngày = 4.200.000 đồng.
- Tiền thu nhập thực tế bị mất của ng ời bị hại trong thời gian hông lao động đ ợc là 200.000 đồng/ngày x 03 tháng = 18.000.000 đồng.
- Tiền khám và mổ lấy đinh vít trong tay là 10.000.000 đồng.
- Tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho ng ời bị hại là 29.800.000 đồng.
Nh vậy, tổng số tiền bị cáo phải bồi th ờng cho ng ời bị hại là 98.945.992 đồng. Bị cáo đ ợc khấu trừ số tiền 30.000.000 đồng đã bồi th ờng tr ớc. Bị cáo còn phải bồi th ờng cho ng ời bị hại số tiền 68.945.992 đồng (sáu m ơi tám triệu, chín trăm bốn m ơi lăm ngàn, chín trăm chín m ơi hai đồng).
Về nội dung kháng cáo của ng ời bị hại:
Tại phiên tòa ng ời bị hại đã rút yêu cầu kháng cáo. Việc rút kháng cáo của ng ời bị hại là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ giải quyết đối với kháng cáo của ng ời bị hại.
Về án phí: Do đ ợc chấp nhận một phần háng cáo nên bị cáo hông phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do có thay đổi về số tiền mà bị cáo phải có nghĩa vụ bồi th ờng cho ng ời bị hại nên cần tính toán lại án phí dân sự sơ thẩm, cụ thể bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền:
68.945.992 đồng x 5% = 3.447.000 đồng (làm tròn số)
Các quyết định hác của bản án sơ thẩm hông có háng cáo, hông bị háng cáo, háng nghị có hiệu lực pháp luật, ể từ ngày hết thời hạn háng cáo háng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào điểm a, b hoản 1 Điều 355, điểm d khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 21/12/2016 của Uỷ ban th ờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
- Không chấp nhận háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Hồng S.
- Chấp nhận một phần háng cáo về việc giảm mức bồi th ờng thiệt hại của bị cáo Lê Hồng S.
- Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với háng cáo của ng ời bị hại anh Bùi Chí T.
Áp dụng điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Lê Hồng S 03 (Ba) năm tù về tội “Cố gây th ơng tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù đ ợc tính từ ngày bắt thi hành án.
[2] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ Luật hình sự và Điều 590 Bộ luật dân sự:
Buộc bị cáo Lê Hồng S phải có nghĩa vụ bồi th ờng cho ng ời bị hại Bùi Chí T tiền thu nhập thực tế bị mất của ng ời bị hại trong thời gian điều trị, tiền thu nhập thực tế bị mất của ng ời bị hại trong thời gian hông lao động đ ợc; tiền thu nhập thực tế bị mất của ng ời chăm sóc ng ời bị hại trong thời gian điều trị, các chi phí điều trị, chi phí đi lại, tiền bù đắp tổn thất về tinh thần với tổng số tiền là 98.945.992 đồng, đ ợc khấu trừ số tiền 30.000.000 đồng đã bồi th ờng tr ớc. Bị cáo còn phải bồi th ờng cho ng ời bị hại số tiền 68.945.992 đồng (sáu m ơi tám triệu, chín trăm bốn m ơi lăm ngàn, chín trăm chín m ơi hai đồng).
Kể từ ngày có đ n yêu cầu thi hành án của ng ời đ ợc thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của s tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
[3] Về án phí:
[3.] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Hồng S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[3.2] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Hồng S phải chịu 3.447.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Các quyết định hác của bản án sơ thẩm hông có háng cáo, hông bị háng cáo, háng nghị đã có hiệu lực pháp luật, ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản); - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk; - Văn phòng CQCSĐ Công an tỉnh Đắk Lắk; - Sở pháp tỉnh Đắk Lắk; - Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk; - TAND huyện Lắk; - VKSND huyện Lắk; - Công an huyện Lắk; - Chi cục THADS huyện L; - Những ng ời TGTT; - Bị cáo; - L u hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Hằng |