vanban.org

Bản án 323/2024/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 20/06/2024 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/06/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

hông chấp nhận Quyết định háng nghị số 21/QĐ NPT-VKS-ST ngày 29/01/2024 của Viện trư ng Viện i sát nh n d n huyện H ng Ngự, t nh Đ ng Tháp.

Chấp nhận ột ph n y u c u háng cáo của bà Nguy n Thị H1. hông chấp nhận y u c u háng cáo của bà Huỳnh Thị Lệ T1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? hông chấp nhận Quyết định háng nghị số 21/QĐ NPT-VKS-ST ngày 29/01/2024 của Viện trư ng Viện i sát nh n d n huyện H ng Ngự, t nh Đ ng Tháp.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật tố tụng d n sự; Điều 357 Bộ luật d n sự
T
N NH N N
TỈNH ĐỒNG TH P

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 323/2024/DS-PT
Ngày: 20-6-2024
V/v tranh chấp quyền sử dụng
đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆT N M

TÒA N NH N N TỈNH ĐỒNG TH P

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguy n Ng c Vạng.

Các Thẩm phán:

Ông Sỹ Danh Đạt;

Bà Nguy n Huỳnh Thị Hương

Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguy n Bảo Quốc - Thư T a án nh n d n t nh Đ ng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân t nh Đồng Tháp: Bà Tr n Thị Ng c Qu - i sát vi n tha gia phi n t a.

Trong các ngày 06/6 và 20/6/2024, tại trụ s T a án nh n d n t nh Đ ng Tháp xét xử phúc thẩ công hai vụ án thụ l số 174/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 3 nă 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án d n sự sơ thẩ số 02/2024/DS-ST ngày 15 tháng 01 nă 2024 của T a án nh n d n huyện H ng Ngự bị háng cáo, háng nghị.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩ số 328/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 5 nă 2024 giữa các đương sự:

1. Nguy n đơn: Anh Nguy n Văn H, sinh nă 1986; Địa ch cư trú: ấp G, xã T, huyện H, t nh Đ ng Tháp. (Có mặt)

2. Bị đơn: Chị Nguy n Thị H1, sinh nă 1969; Địa ch cư trú: Ấp B, xã T, huyện H, t nh Đ ng Tháp. (Có mặt)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan:

3.1. Chị L Thị T, sinh nă 1984. (vợ anh H); Địa ch cư trú: ấp G, xã T, huyện H, t nh Đ ng Tháp. (Có mặt)

3.2. Anh Ngô Bình D, sinh nă 2002. (con anh H)

3.3. Anh Ngô Bình N, sinh nă 2004. (con anh H)

Cùng địa ch : Ấp P, xã P, huyện A, t nh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của chị L Thị T, anh Ngô Bình D, anh Ngô Bình N là anh Nguy n Văn H, sinh nă 1986 (ch ng và cha); Địa ch cư trú: Ấp G, xã T, huyện H, t nh Đ ng Tháp. (theo văn bản ủy quyền ngày 08/6/2023)

3.4. Chị Huỳnh Thị Lệ T1, sinh nă 1979. Địa ch cư trú: Ấp B, xã T, huyện H, t nh Đ ng Tháp. (Có mặt)

4. Người háng cáo:

Bà Nguy n Thị H1 - Là bị đơn.

Bà Huỳnh Thị Lệ T1 là Người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan.

5. háng nghị: Viện trư ng Viện i sát nh n d n huyện H ng Ngự.

NỘI UNG VỤ N:

- Nguyên đơn anh Nguyễn Văn H đồng thời là đại diện theo ủy quyền của người liên quan chị Lê Thị T, anh Ngô Bình D, anh Ngô Bình N trình bày: Anh và bị đơn chị Nguy n Thị H1 hông quan hệ bà con, ngu n gốc ph n đất tranh chấp với bị đơn chị Nguy n Thị H1 là do nhà nước cấp cho hộ của gia đình anh hoảng nă 2004 -2005, tại lô F1, nền số 5, cụ d n cư ấp G, xã T, huyện H, t nh Đ ng Tháp – L do vì qu của anh huyện A, t nh An Giang, nă 2002 anh lập gia đình sau đó thì về b n vợ tại ấp G, xã T sinh sống, lúc này cha vợ anh hỏi xin ông Nă B (Trư ng ấp lúc bấy giờ) cất nhà đ tr n nền đất trống hông biết của ai (cũng là nền đất tranh chấp hiện nay), thì ông B đ ng , n n vợ ch ng anh cất nhà bằng tre , vì ch đi cắt lúa thu , thấy thu nhập hông ổn định n n vợ ch ng anh l n t nh Bình Dương là thu (công nh n), trước đó có anh Nguy n Văn D1 (ch ng chị T1) đến địa phương cắt lúa thu n n quen biết với nhau, anh D1 xin anh nhờ tr n nền đất của anh, anh D1 nói “vợ ch ng ày đi Bình Dương là thì cho tao ượn nhà đ hi nào vợ ch ng ày về tao trả”, anh ới đ ng cho vợ ch ng anh D1 nhờ nhà và nền đất từ nă 2003, sau hi cho ượn nhà, nền đất thì vợ ch ng anh l n Bình Dương là thu (việc anh cho vợ ch ng chị T1, anh D1 ượn nhà ch nói iệng hông có là giấy tờ), hoảng 02 nă sau anh về qu thă nhà thì có người quen cùng xó nói với anh là có người vô thu tiền nền nhà do Nhà nước cấp có t n anh trong đó, sau đó anh đến Ủy ban nh n d n xã T, huyện H hỏi địa ch nh xã và hỏi ông Nă B Trư ng ấp, thì h nói nền nhà này của ông D1 hông phải của anh, n n anh bu n, tiếp tục đi là thu nữa. Sau đó hoảng 05 đến 07 nă anh ới về thă nhà, lúc đó ông Nă B ời anh cùng vợ ch ng anh D1 lại B1 h a giải ấp và nói rằng anh đã bán nền nhà ấy cho anh D1, chị T1 01 ch vàng, Nă B hỏi ông D1 ua có giấy tờ hông, thì anh D1 nói hông có giấy tờ, sau đó ông Nă B u anh t n sang quyền chuy n nhượng nền nhà cho D1, chị T1 - anh hông đ ng , anh nói nền nhà này anh không có bán cho anh D1, chị T1. Sau đó anh tiếp tục đi Bình Dương là thu , r i nghe nói Nhà nước đến nhà thu tiền nền nữa, n n anh ới chạy về ra xã đóng tiền, thì xã nói vợ anh D1 đóng và hỏi ỷ ra là chị Nguy n Thị H1 đóng tiền. Anh hông biết nhà nước cấp nền cho anh n n anh hông th đóng tiền nền, và giữ các giấy tờ do nhà nước cấp nền cho anh, do đi là thu n n anh hông biết ch nh xác nhà nước cấp nền nhà cho ình nă nào, đến nă 2009 anh có nhờ chị thu tiền nền Ủy ban nh n d n xã được danh sách cấp nền, ới biết ch nh xác là gia đình anh được Nhà nước cấp nền nhà tại hu d n cư G bàng. Nay biết nhà nước cấp nền cho gia đình anh, n n anh ới dá đ i lại. Việc vợ anh D1 là chị T1 hai, đất và nhà là do anh bán cho vợ ch ng anh D1, chị T1 giá 01 ch vàng là hông đúng, l do là nền đất này trước đ y anh xin nhờ, đ u phải đất của anh đ u à anh bán, nay anh y u c u chị Nguy n Thị H1 di đời căn nhà và vật iến trúc đi nơi hác đ trả lại cho gia đình anh nền nhà được nhà nước cấp theo đo đạc thực tế là ngang 4,7 , dài 22 , diện t ch 103,3m2 thuộc thửa đất số 31, tờ bản đ số 25, đất t a lạc ấp G, xã T, huyện H, t nh Đ ng Tháp. (Đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất); Anh thống nhất trả lại cho chị H1 số tiền nộp cho nhà nước là 9.943.000 đ ng – Không đ ng ph n tiền lãi à chị Nguy n Thị H1 có iến y u c u anh trả 5.057.000 đ ng, vì việc này chị H1 tự đi nộp, anh ch đ ng trả lại tiền gốc à thôi; Đối với việc di dời nhà anh đ ng hỗ trợ di dời nhà cho chị H1 số tiền là 5.000.000 đ ng – hông đ ng 70.000.000 đ ng như chị H1 y u c u.

- Chị Nguyễn Thị H1 trình bày: Chị và anh Nguy n Văn H không có quan hệ bà con, trước nă 2003 nhà chị xã T, huyện H, chị hông có ch ng con, n n đến đất ông T2 thuộc ấp G, xã T 1 đậu bán đ tạp hóa sinh sống qua ngày - ph n đất à chị đang cất nhà (Nền nhà 105 đang tranh chấp) thì vào nă 2018 là chị ua của anh Nguy n Văn D1 (vợ là Huỳnh Thị Lệ T1), sau hi ua thì chị cất nhà cho đến nay ( ua với giá 25.000.000 đ ng + trại Tr u ph a sau 2.000.000 đ ng nữa, tổng cộng là 27.000.000 đ ng, đã trả đủ tiền cho anh D1, chị T1). Việc ua bán hai b n có là giấy tay với nhau hiện giờ chị vẫn c n giữ, đến nă 2004 ới biết nền nhà này là anh D1 ua lại của anh H và chị cứ nghĩ hai b n đã mua bán xong (vì anh D1 nền nhà này từ nă 2003 đến nă 2018 hông ai tranh chấp, thấy vậy n n ua lại của anh D1 đ cất nhà , vì chị đang đậu tr n đất ông T2 đối diện nền nhà này), lúc ua đất nă 2018 thì chị hông biết anh D1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa, n n chị có hỏi anh D1, anh D1 nói là ới nộp tiền nền cho nhà nước, chưa có sổ đỏ, nhưng thực tế anh D1 hông có nộp tiền cho nhà nước, sau đó chị ới nộp tiền cho nhà nước, t ng cộng 03 l n: l n thứ nhất 7.943.000 đ ng (l n này đưa anh D1 nộp dù ), l n thứ 2 là 1.000.000 đ ng (l n này chị nộp), l n thứ ba là 1.000.000 đ ng (l n này chị nộp), tổng cộng 9.943.000 đ ng, ngoài ra hông có nộp số tiền nào hác - hiện tại chị ch có chổ duy nhất này, ngoài ra hông có chổ hác.

Việc anh Nguy n Văn H y u c u chị di dời nhà đi nơi hác đ trả lại đất, chị hông đ ng , vì chị ua lại của anh D1, chị T1. Nếu trường hợp T a án xử cho chị được ph n đất này thì thôi, c n nếu T a án xét xử cho anh H được sử dụng nền nhà thì trong vụ án này chị hông y u c u chị T1 (anh D1 đã chết) trả lại 27.000.000 đ ng (tiền ua nền nhà), vì đ thương lượng, nếu có tranh chấp sẽ giải quyết bằng 01 vụ iện hác, đ ng thời đề nghị anh H hỗ trợ tiền di dời nhà 70.000.000 đ ng. Đối với số tiền à chị đã nộp nhà nước 9.943.000 đ ng, thì số tiền này chị hỏi vay của người ta với lãi suất cao, n n chị y u c u anh H trả lại chị ph n tiền gốc và tiền lãi tổng cộng là 15.000.000 đ ng (trong đó tiền gốc là 9.943.000 đ ng, và tiền lãi là 5.057.000 đ ng). Nay tại phi n t a chị H1 thay đổi iến là hông y u c u anh H trả tiền lãi của ph n tiền nộp nhà nước và ph n hổ trợ 70.000.000 đ ng đi dời nhà.

- Chị Huỳnh Thị Lệ T1 trình bày: Chị là vợ của anh Nguy n Văn D1 (đã chết), vợ ch ng chị hông có quan hệ bà con với nguy n đơn anh Nguy n Văn H và bị đơn chị Nguy n Thị H1, ph n đất tranh chấp hiện nay giữa anh H với chị H1 và chị H1 đang cất nhà (Nền nhà 105) , có ngu n gốc như sau: Trước nă 2003 vợ ch ng chị K, sinh sống dưới ghe, sau đó đến ấp G cắt lúa ướn, có quen với anh H cùng xó , sau đó anh H ới u vợ ch ng chị bán cái nền nhà đó với giá 01 ch vàng 24 ara và hai b n thống nhất ua bán, hi này tr n đất có cái trại gỗ đã củ hông được, n n vợ ch ng chị ới cất nhà hác bằng gỗ , lúc ua đất thì hông biết anh H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa, vì hi bán đất xong vợ ch ng anh H đi là thu luôn cho tới sau này ới về, vợ ch ng chị rất uốn gặp anh H đ sang t n đất, nhưng từ đó đến nay hông gặp được, lúc ua bán nền nhà này giữa anh H và vợ ch ng chị hông có là giấy tờ ch thỏa thuận iệng, ch giao vàng cho vợ ch ng anh H, r i vợ ch ng anh H đi luôn ( hông có chứng cứ nào hác đ chứng inh); đối với nền đất lúc ua thì là đất trũng chưa ai cất nhà được, sau này nhà nước ới đổ hu d n cư; Vào nă 2020 thì anh D1 ch ng chị có đến Ủy ban nh n d n xã nộp tiền nền nhà là 7.943.000 đ ng (số tiền này do chị H1 đưa cho anh D1 đi nộp), việc anh H cho rằng nền nhà này cho vợ ch ng chị ượn đ là hông đúng, chị ua nền nhà của anh H chứ hông phải ượn. Nay anh H y u c u chị H1 trả lại nền nhà này, thì tùy pháp luật xe xét giải quyết, chị hông y u c u tranh chấp gì cả, cả việc ua bán nền đất với chị H1 và với anh H.

Tại Bản án sơ thẩ số 02/2024/DS-ST ngày 15/01/2024 của T a án nh n d n huyện H ng Ngự đã quyết định:

Chấp nhận y u c u h i iện của nguy n đơn anh Nguy n Văn H, về việc y u c u bị đơn chị Nguy n Thị H1 trả lại nền đất nông thôn tại ấp G, xã T, huyện H, t nh Đ ng Tháp.

Hết thời hạn 06 (sáu) tháng, từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (là thời hạn lưu cư): Buộc bị đơn chị Nguy n Thị H1 có trách nhiệ di dời bằng

i hình thức căn nhà gỗ tạp, vách ton, lợp ton, sàn ột ph n, lót ván tạp, nóng đá và tài sản hác thuộc s hữu của bị đơn chị Nguy n Thi H2 ra hỏi nền đất có chiều ngang 4,7 ét, chiều dài 22 ét, diện t ch 103,3 2, tại lô F1, nền số 05 – nay thuộc thửa 31, tờ bản đ số 25, ục đ ch sử dụng: đất nông thôn (Vị tr : Từ đi M1 đến đi M2 đến đi M3 đến đi M4 tr lại đi M1 theo sơ đ đo đạc ngày 29/3/2023) – địa ch ấp G, xã T, huyện H, t nh Đ ng Tháp đ trả lại cho hộ anh Nguy n Văn H sử dụng theo quy định (tr n cơ s Ủy ban nh n d n huyện H bố tr giao nền theo Chương trình 105/2002/QĐ-TTg ngày 02/8/2002 của Thủ tướng Ch nh phủ); Nếu bị đơn chị Nguy n Thị H1 hông tự nguyện thi hành thì sẽ bị cưỡng chế theo quy định.

(Kèm theo sơ đồ đo đạc số: 30/SĐ.ĐĐ/VP.ĐKĐĐHHN2023 ngày 29/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, Đồng Tháp)

Hộ nguy n đơn anh Nguy n Văn H có nghĩa vụ trả lại số tiền 9.943.000 đ ng (nghĩa vụ tài ch nh đối với Nhà nước à bị đơn chị Nguy n Thị H1 đã nộp thay) và giao số tiền tự nguyện hỗ trợ di dời tài sản là 5.000.000 đ ng. Tổng cộng là 14.943.000 đ ng cho bị đơn chị Nguy n Thị H1.

từ ngày có đơn y u c u thi hành án của người được thi hành án, mà người phải thi hành án chưa thi hành các hoảng tiền n u tr n, thì hàng tháng người phải thi hành án c n phải chịu th

hoản tiền lãi theo ức lãi suất quy định tại hoản 2 Điều 468 của Bộ luật d n sự tr n số tiền chậ thi hành tương ứng với thời gian chậ thi hành cho đến hi thi hành án xong.

Ngoài ra, bản án c n tuy n về án ph , chi ph thẩ định tại chỗ, chi ph định giá tài sản quyền và thời hạn háng cáo, quyền, nghĩa vụ và thời hiệu thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

- Ngày 24/01/2024 và ngày 25/01/2024 bà Nguy n Thị H1, bà Huỳnh Thị Lệ T1 háng cáo y u c u hông chấp nhận toàn bộ y u c u h i iện của nguyên đơn. Y u c u công nhận cho bà H1 được sử dụng ph n đất tranh chấp có chiều ngang 4,7 , chiều dài 22 , diện t ch 103,3 ², tại lô F1, nền số 05, thuộc thửa 31, tờ bản đ số 25, ục đ ch sử dụng: đất nông thôn, t a lại tại ấp G, xã T, huyện H, t nh Đ ng Tháp.

- Ngày 29/01/2024, Viện trư ng Viện i sát nh n d n huyện H ng Ngự có quyết định háng nghị số 21/QĐ NPT-DS: Đề nghị T a án nh n d n t nh Đ ng Tháp xét xử phúc thẩ vụ án theo hướng sửa bản án d n sự sơ thẩ , hông chấp nhận y u c u của nguy n đơn anh Nguy n Văn H.

- Tại phi n t a phúc thẩ :

- Tại phi n t a phúc thẩ :

+ Bà Nguy n Thị H1 trình bày: Bà H1 y u c u xe xét cho bà H1 được tiếp tục sử dụng đất.

+ Bà Huỳnh Thị Lệ T1 trình bày: Bà T1 y u c u xe xét lại bản án sơ thẩ , vì ph n đất tranh chấp là do bà nhận chuy n nhượng của ông H giá ột ch vàng, n n hông đ ng theo y u c u của ông H về việc đ i đất.

- Đại diện Viện i sát nh n d n t nh Đ ng Tháp phát bi u iến về giải quyết vụ án:

+ Về tố tụng: Thẩ phán, Hội đ ng xét xử, Thư và các đương sự đều thực hiện đúng quy định của pháp luật.

+ Về nội dung:

Nhận thấy: Từ nă 2003 vợ ch ng bà T1 cất nhà sinh sống tr n nền nhà tranh chấp đến nă 2018 là 15 nă . Trong hoảng thời gian 15 nă này vợ ch ng bà T1 có sửa chữa nhà và cất lại nhà ới 02 l n. Sau đó chuy n nhượng lại cho bà H1 và bà H1 cũng có cất lại nhà ới, việc này ông H thường xuy n về qu nhà cha ẹ vợ cách nền nhà tranh chấp là ột căn, ông H biết bà T1 dỡ căn nhà cũ của ông nhưng ông hông hiếu nại hay tranh chấp. Từ đó cho thấy ông H đã chuy n nhượng nền nhà cho bà T1.

Ông H cũng hông có chứng cứ chứng inh là cho vợ ch ng bà T1 nhờ tr n đất tranh chấp và bà T1 hông thừa nhận việc này. Tại phi n t a ông H thừa nhận là ông hông nghĩ rằng ông được Nhà nước cấp nền nhà, vì thời đi cấp ông hông hay biết, hông là đơn đăng , hông bốc thă nhận nền và ông chưa chuy n hộ hẩu về ấp G. Ông H cũng hông thực hiện nghĩa vụ tài ch nh.

Ông Đặng Văn B2 Trư ng ấp G cho rằng biết việc bà H1 nhận chuy n nhượng nền nhà và cất nhà vào nă 2018. Việc này ông H cũng biết nhưng hông có tranh chấp.

Do đó háng cáo của bà H1, bà T1 và háng nghị của Viện i sát nh n d n huyện H ng Ngự là có căn cứ đ chấp nhận. Đề nghị sửa án sơ thẩ theo hướng hông chấp nhận y u c u h i iện của ông H.

Sau hi nghi n cứu các tài liệu có trong h sơ vụ án đã được thẩ tra tại phi n t a và căn cứ vào ết quả tranh tụng tại phi n t a.

NHẬN ĐỊNH CỦ T

N:

[1] Ông Nguy n Văn H h i iện bà Nguy n Thị H1 về tranh chấp quyền sử dụng đất, T a án nh n d n huyện H ng Ngự thụ l giải quyết là đúng thẩ quyền. Bà H1 và bà T1 háng cáo trong thời hạn n n chấp nhận.

[2] Ông H y u c u bà H1 di dời nhà trả lại đất cho ông diện t ch 103,3 2 thuộc thửa số 31 tờ bản đ số 25 loại đất nông thôn, đất chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ (đất thuộc Cụ d n cư thực hiện theo Quyết định số 105/2002/QĐ-TTg ngày 02/8/2002 của Thủ tướng Ch nh phủ, về ch nh sách cho các hộ d n vùng ngập lũ); đất tại ấp G, xã T, huyện H, t nh Đ ng Tháp. Ông H trình bày ph n đất tranh chấp là do Nhà nước cấp cho ông H, nhưng bà H1 cất nhà n n y u c u trả lại đất. Bà H1 hông đ ng theo y u c u của ông H vì bà cất nhà tr n ph n đất nhận chuy n nhượng của vợ ch ng bà T1. Bà T1 thì cho rằng trước đ y ông H đã chuy n nhượng ph n đất tranh chấp n u tr n cho bà và bà sử dụng ột thời gian sau đó chuy n nhượng lại cho bà H1 n n hông đ ng theo y u c u của ông H.

Xét thấy ngu n gốc đất trước đ y là do ông H xin ông B2 (Trư ng Ban N1) cho cất nhà tr n ph n đất trống đ có nơi đi là thu . Nă 2003, ông H đi t nh Bình Dương là thu n n ông H giao căn nhà và đất cho bà T1 ượn . Đối với bà T1 thì cho rằng ông H đã chuy n nhượng ph n đất tranh chấp cho bà với giá 01 ch vàng 24 . Thực tế bà T1 thừa nhận nhà đất là của ông H và bà T1 thừa nhận hông có chứng cứ chứng inh ông H chuy n nhượng nhà đất, đ ng thời cũng hông cung cấp được tài liệu chứng cứ th hiện là ông H có nhận 01 ch vàng 24 của bà T1.

Ông H trình bày vào thời đi nă 2003 do phải đi là thu xa n n ch cho bà T1 nhờ, ông H hông thừa nhận chuy n nhượng QSDĐ. Tại T a án cấp sơ thẩ và tại phi n t a phúc thẩ thì bà H1 đều cho rằng, ông D1 có nói với bà H1 là đất của ông D1 được Nhà nước cấp đã nộp tiền xong, nhưng thực tế thì ông D1 (chết) hông có nộp tiền ua nền trả chậ cho Nhà nước theo quy định. Qua đó th hiện thức của ông D1 là hông có việc giao dịch chuy n nhượng QSDĐ, vì nếu như vợ ch ng ông D1, bà T1 có giao cho ông H 01 ch vàng 24 thì hông c n thiết phải nói với bà H1 hông đúng sự thật về ngu n gốc như n u tr n. Bà H1 thỏa thuận nhận chuy n nhượng đất với bà T1 và khi bà H1 nộp tiền ua nền trả chậ vào nă 2018 thì bà H1 vẫn biết người được cấp đất là ông H, chứ hông phải đất cấp cho hộ bà T1 nhưng bà H1 cũng hông hỏi iến của ông H đ là rõ, n n việc chuy n nhượng là chưa phù hợp quy định của pháp luật.

Tr n thực tế ông H là người được Nhà nước xe xét bố tr nền nhà từ nă 2004, tại ngay vị tr đất à trước đ y ch nh quyền địa phương cho phép ông H cất nhà . Theo Thông báo số 138/TB-VP ngày 17/02/2022 của Văn phòng Ủy ban nh n d n huyện H, t nh Đ ng Tháp (UBND Huyện), về truyền đạt iến ết luận của UBND Huyện tại cuộc h p ngày 14/9/2015, nội dung ục 5 như sau: Thống nhất lấy mốc thời gian ban hành Quyết định giao đất cho các hộ dân trên các cụm tuyến dân cư (giai đoạn 1) đối tượng 105 theo nội dung đề xuất của Phòng T3 tại Công văn số 290/PTNMT ngày 01/9/2015. Giao Phòng T3 khảo sát ý kiến Sở T4 và Phòng Tư pháp về trình tự, thủ tục thực hiện giao đất cho các hộ dân theo quy định (kèm theo danh sách các hộ dân chưa ban hành Quyết định giao đất đối tượng 105, có tên ông H). Như vậy vào thời đi ngày 14/9/2015 U ban hành Quyết định giao đất, tiếp tục xác định ông Nguy n Văn H là người được hư ng ch nh sách theo quy định. Đ ng thời tại Công văn số 1344 ngày 23/8/2023 của UBND Huyện iến như sau: “Thửa đất số 31 tờ bản đồ số 25, xã T 1 tương ứng nền số 5 lô F1, thuộc nền cụm dân cư Giồng Bàng, được xem xét bố trí cho hộ ông Nguyễn Văn H theo Quyết định số 105/2020/QĐTTg ngày 02/8/2002 của Thủ tướng Chính phủ, về chính sách cho các hộ dân vùng ngập lũ mua nền nhà trả chậm và nhà ở trong cụm tuyến dân cư ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long”. Đ ng thời cơ quan có thẩ quyền vẫn giữ nguy n việc thu tiền phải đúng t n người được cấp nền nhà theo quy định (phiếu thu tiền nền trả chậ cũng ghi t n người được cấp đất là ông H).

Mặt hác bà H1 nộp tiền nền nhà trả chậ 9.943.000đ, thì cơ quan có thẩ quyền vẫn xác định ông H nhà đã nộp tiền theo quy định. Tại Công văn số 1537 ngày 25/9/2023 của UBND Huyện

iến: “Theo Công văn số 679/UBND –HC ngày 06/9/2011 của UBND Huyện, về việc điều chỉnh giá nền cụm dân cư G, xã T, trong đó có nền số 5, lô F, với giá 9.943.000đ. Hộ ông H đã nộp đủ số tiền 9.943.000đ và đựơc xem xét cấp giấy chứng nhận QSDĐ theo quy định”. Vậy iến của UBND Huyện là xe xét cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho hộ ông H.

Ông H thuộc diện được xe xét bố tr nền đất cất nhà theo Quyết định số 105/2002/QĐ-TTg ngày 02/8/2002 của Thủ tướng Ch nh phủ, về ch nh sách cho các hộ d n vùng ngập lũ. Nhận thấy tại hoản 3 Điều 1 của Quyết định số 105/2002/QĐ-TTg quy định các hộ được ua nền nhà trong thời hạn 10 nă

từ hi được ua thì hông được sang bán c cố chuy n nhượng. Như vậy

từ thời đi đã nộp đủ tiền ua nền nhà thì trong thời hạn 10 nă hông được sang bán c cố chuy n nhượng (quy định cấ của pháp luật). T a án cấp sơ thẩ chấp nhận y u c u của ông H là phù hợp. Vì vậy háng cáo của bà H1 và bà T1 về việc cho bà H1 được QSDĐ là hông có cơ s đ chấp nhận. Tuy nhi n tại phi n t a ông H đ ng hỗ trợ tiền di dời nhà cho bà H1 15.000.000đ sự tự nguyện này là phù hợp n n chấp nhận.

Đối với việc chuy n nhượng QSDĐ giữa bà T1 và bà H1, thì bà T1 bà H1 trình bày là hông có y u c u xe xét giải quyết và T a án cấp sơ thẩ chưa xe xét n n cấp phúc thẩ hông xe xét.

Xét háng nghị của Viện i sát nh n d n huyện H ng Ngự đề nghị sửa án sơ thẩ theo hướng công nhận cho bà H1 được tiếp tục sử dụng đất là chưa phù hợp như đã ph n t ch n u tr n.

Đại diện Viện i sát T nh đề nghị chấp nhận Quyết định háng nghị của Viện i sát nh n d n huyện H ng Ngự, chấp nhận háng cáo của bà H1 và chấp nhận háng cáo của bà T1 là chưa phù hợp.

T a án cấp sơ thẩ xử đã có căn cứ pháp luật n n giữ nguy n quyết định của bản án sơ thẩ , hông chấp nhận Quyết định háng nghị của Viện i sát nh n d n huyện H ng Ngự, hông chấp nhận háng cáo của bà T1, chấp nhận ột ph n háng cáo của bà H1, về việc ông H hỗ trợ tiền di dời nhà, sửa ột ph n bản án sơ thẩ .

[3] Án phí phúc thẩ : Bà H1 hông phải chịu tiền án ph . Bà T1 phải chịu 300.000đ.

Vì các lẽ tr n;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 4, 5, 26, 35, 39, 91, 92, 147, 157, 165, hoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng d n sự; Điều 357, 468, 494, 496, 499 Bộ luật d n sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định án ph , lệ ph T a án.

1. hông chấp nhận Quyết định háng nghị số 21/QĐ NPT-VKS-ST ngày 29/01/2024 của Viện trư ng Viện i sát nh n d n huyện H ng Ngự, t nh Đ ng Tháp.

Chấp nhận ột ph n y u c u háng cáo của bà Nguy n Thị H1.

hông chấp nhận y u c u háng cáo của bà Huỳnh Thị Lệ T1.

Sửa ột ph n bản án d n sự sơ thẩ (về việc ông H hỗ trợ tiền di dời nhà cho bà H1).

2. Chấp nhận y u c u h i iện của ông Nguy n Văn H, về việc y u c u bà Nguy n Thị H1 trả lại nền đất nông thôn tại ấp G, xã T, huyện H, t nh Đ ng Tháp.

3. Hết thời hạn 06 (sáu) tháng, từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (là thời hạn lưu cư): Buộc bà Nguy n Thị H1 có trách nhiệ di dời bằng i hình thức căn nhà gỗ tạp, vách ton, lợp ton, sàn ột ph n, lót ván tạp, nóng đá và tài sản hác thuộc s hữu của bà Nguy n Thi H2 ra hỏi nền đất có chiều ngang 4,7 ét, chiều dài 22 ét, diện t ch 103,3 2, tại lô F1, nền số 05 – nay thuộc thửa 31, tờ bản đ số 25, ục đ ch sử dụng: đất nông thôn (Vị tr : Từ đi M1 đến đi M2 đến đi M3 đến đi M4 tr lại đi M1 theo sơ đ đo đạc ngày 29/3/2023) – địa ch ấp G, xã T, huyện H, t nh Đ ng Tháp đ trả lại cho hộ ông Nguy n Văn H sử dụng theo quy định (tr n cơ s Ủy ban nh n d n huyện H bố tr giao nền theo Chương trình 105/2002/QĐ-TTg ngày 02/8/2002 của Thủ tướng Ch nh phủ); Nếu bà Nguy n Thị H1 hông tự nguyện thi hành thì sẽ bị cưỡng chế theo quy định.

(Kèm theo sơ đồ đo đạc số: 30/SĐ.ĐĐ/VP.ĐKĐĐHHN2023 ngày 29/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, Đồng Tháp)

Hộ ông Nguy n Văn H (Nguy n Văn H, L Thị T, Ngô Bình D, Ngô Bình N) có nghĩa vụ trả lại số tiền 9.943.000 đ ng (nghĩa vụ tài ch nh đối với Nhà nước à bà Nguy n Thị H1 đã nộp thay) và giao số tiền tự nguyện hỗ trợ di dời tài sản là 15.000.000 đ ng. Tổng cộng là 24.943.000 đ ng cho bà Nguy n Thị H1.

từ ngày có đơn y u c u thi hành án của người được thi hành án, à người phải thi hành án chưa thi hành các hoản tiền n u tr n, thì hàng tháng người phải thi hành án c n phải chịu th

hoản tiền lãi theo ức lãi suất quy định tại hoản 2 Điều 468 của Bộ luật d n sự tr n số tiền chậ thi hành tương ứng với thời gian chậ thi hành cho đến hi thi hành án xong.

4. Về chi ph thẩ định tại chỗ, chi ph định giá tài sản tranh chấp: Ông Nguy n Văn H thống nhất chịu toàn bộ hai hoản chi ph này là: 2.153.290 đ ng, nhưng được hấu trừ vào số tiền ông Nguy n Văn H đã nộp tạ ứng là: 2.153.290 đ ng. Vậy ông Nguy n Văn H đã nộp xong tiền chi ph thẩ định tại chỗ, chi ph định giá tài sản tranh chấp; bà Nguy n Thị H1 hông phải chịu chi ph thẩ định tại chỗ, chi ph định giá tài sản tranh chấp.

5. Về án ph d n sự:

Bà Nguy n Thị H1, phải nộp 300.000 đ ng (án ph của nghĩa vụ trả nền đất), hông phải chịu tiền án ph d n sự phúc thẩ . Bà H1 được hấu trừ vào tiền tạ ứng án ph đã nộp 300.000đ, theo bi n lai thu số 0004648 ngày 24/01/2024 của Chi cục thi hành án d n sự huyện H ng Ngự, t nh Đ ng Tháp. Vậy bà H1 hông phải nộp tiền án ph th .

Ông Nguy n Văn H phải chịu 1.247.150 đ ng tiền án ph d n sự sơ thẩ , nhưng được hấu trừ vào số tiền tạ ứng án ph d n sự sơ thẩ đã nộp là 705.000 đ ng, theo bi n lai thu hiệu: 14BE-21, số: 0004248 ngày 10/02/2023 của Chi cục thi hành án d n sự huyện H ng Ngự, t nh Đ ng Tháp. Vậy ông Nguy n Văn H c n phải nộp tiếp số tiền 497.150 đ ng.

Bà Huỳnh Thị Lệ T1 hông phải chịu án phi d n sự sơ thẩ . Bà T1 phải chịu tiền án ph d n sự phúc thẩ là 300.000đ, nhưng được hấu trừ vào tiền tạ ứng án ph đã nộp 300.000đ, theo bi n lai thu số 0004570 ngày 31/01/2024 của Chi cục thi hành án d n sự huyện H ng Ngự, t nh Đ ng Tháp.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án d n sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, y u c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án d n sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án d n sự.

Bản án phúc thẩ có hiệu lực pháp luật từ ngày tuy n án./.

Cỡ chữ