- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN THỊ H - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 323/2023/HS-ST Ngày 21-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Công;
Bà Trần Ngọc Phƣơng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 346/2023/HSST ngày 24 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 322/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị H, sinh năm 1989, tại: tỉnh Gia Lai; nơi thƣờng trú: Thôn 18, xã S, huyện K, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị H1; bị cáo có 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30 tháng 6 năm 2023 cho đến nay;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lê Trung G, sinh năm 1993; nơi thƣờng trú: Ấp V, xã F, huyện L, tỉnh Sóc Trăng;
2. Bà Nguyễn Kim N, sinh năm 1972; nơi thƣờng trú: Số 29/3B, khu phố I, phƣờng Z, thành phố Z1, tỉnh Bình Dƣơng.
3. Ông Trần Văn J, sinh năm 1993; nơi thƣờng trú: Khu phố 6, phƣờng E, thị xã B, tỉnh Bình Dƣơng.
Tất cả đều vắng mặt.
Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Trần Văn D, sinh năm 1992, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Nguyễn Thị H là đối tƣợng sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 29/6/2023, H đi đến khu vực chân cầu vƣợt Sóng Thần, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh gặp ngƣời thanh niên tên Hùng (cao khoảng 1 mét 70, khoảng 30 tuổi, nói giọng miền nam) mua ma túy đá với giá 3.000.000 đồng rồi cất giấu trong ngƣời mang về phòng trọ tại địa chỉ: 146, khu phố 1A, phƣờng An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng để sử dụng dần. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Trần Văn D sống nhƣ vợ chồng với H, điều khiển xe mô tô biển số 61C1 - 737.19 chở H đi ăn uống tại khu phố 3, phƣờng An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, khi đi đến ngã ba giao nhau giữa đƣờng N6 và D3 thuộc khu dân cƣ Thông Dụng, khu phố 3, phƣờng An Phú thì bị Công an phƣờng An Phú đang tuần tra trên địa bàn yêu cầu kiểm tra nên H bỏ chạy bộ và vấp ngã xuống đƣờng, từ trong túi quần của H rơi ra 03 túi nylon bên trong đều chứa tinh thể màu trắng. Lúc này, H khai tinh thể màu trắng trong 03 túi nylon trên là ma túy đá do H cất giấu nhằm mục đích sử dụng nên lực lƣợng Công an tiến hành lập biên bản, niêm phong tang vật và đƣa H, D về trụ sở làm việc.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) túi nylon miệng kéo dính loại lớn, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, nghi vấn là ma túy tổng hợp. Cân xác định: 3,3378 gam. Ký hiệu: M3.
- 01 (một) túi nylon miệng kéo dính loại nhỏ, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, nghi vấn ma túy tổng hợp. Cân xác định: 0,1834 gam. Ký hiệu: M1.
- 01 (một) gói nylon hàn kín, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, nghi vấn ma túy tổng hợp. Cân xác định: 0,2032 gam. Ký hiệu: M2.
- 01 (một) xe mô tô biển số 61C1 - 737.19, nhãn hiệu Yamaha, kiểu dáng Exciter, màu xanh - trắng, số máy: 55P1-071276, số khung: RLCE55P10CY07.
Ngày 30/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An có Quyết định trƣng cầu giám định số 532/QĐ-TCGĐ trƣng cầu Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng. Tại Kết luận giám định số 379/KL-KTHS(MT) ngày 05/7/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lƣợng/trọng lƣợng: 0,1834 gam (M1); 0,2032 gam (M2); 3,3378 gam (M3). Tổng cộng: 3,7244 gam.
Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 30/6/2023 của Trung tâm Y tế thành phố Thuận An xác định: Trần Văn D và Nguyễn Thị H đều nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng: Methamphetamine (MET).
Quá trình điều tra, xác định Trần Văn D không biết Nguyễn Thị H cất giấu ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An không tiến hành xử lý là có căn cứ. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Văn D, quá trình điều tra xác định D sử dụng ma túy lần gần nhất vào ngày 28/6/2023 tại nhà nghỉ (không rõ tên và địa chỉ) thuộc địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh cùng với đối tƣợng (không rõ lai lịch, địa chỉ) mới quen ngoài xã hội, ma túy do đối tƣợng này cung cấp nên Công an thành phố Thuận An đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Văn D.
Tại Bản cáo trạng số: 339/CT-VKS-TA ngày 22 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù đến 04 (bốn) năm tù.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thƣ đƣợc niêm phong, ghi số vụ 379/PC09 Công an tỉnh Bình Dƣơng có chữ ký của cán bộ niêm phong Nguyễn Thanh Tâm, chữ ký của ngƣời chứng kiến Trần Văn D, chữ ký của ông Đặng Minh Đƣợc - Phó Công an phƣờng An Phú đóng dấu mộc đỏ, chữ ký tên của ngƣời có đồ vật tài liệu bị niêm phong là Nguyễn Thị H; chữ ký bên nhận Tô Thanh Tùng, chữ ký bên trả là Đoàn Nguyễn Thiện Quang, bên trong phong bì chứa chất ma túy đã đƣợc giám định; tịch thu sung ngân sách nhà nƣớc 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, kiểu dáng Exciter, màu xanh- trắng, số máy 55P1-071276, số khung RLCE55P10CY071274, xe có 01 kiếng, không chìa khóa, không kiểm tra tình trạng bên trong xe; giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An tiếp tục xác minh, điều tra biển số 61C1-737.19.
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố đối với bị cáo là đúng hành vi bị cáo đã thực hiện, bị cáo ăn năn hối lỗi về hành vi của bị cáo; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Trung G, Nguyễn Kim N và Trần Văn J đã khai rõ trong quá trình điều tra và vẫn giữ nguyên ý kiến, không trình bày gì thêm, thống nhất với Bản kết luận điều tra và Cáo trạng. Ngƣời làm chứng vắng mặt tại phiên tòa và không có ý kiến gì đối với Bản kết luận điều tra và Cáo trạng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Quá trình tố tụng bị cáo Nguyễn Thị H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố bị cáo trƣớc Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 29 tháng 6 năm 2023, tại ngã ba giao nhau giữa đƣờng N6 và D3 khu phố 3, phƣờng An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, Công an phƣờng An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng tiến hành kiểm tra phát hiện bị cáo H có hành vi tàng trữ 3,7244 gam ma túy loại Methamphetamine.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý của Nhà nƣớc về ma túy và các chất gây nghiện, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội tại địa phƣơng, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra những tệ nạn xã hội và nhiều căn bệnh hiểm nghèo, tạo gánh nặng cho xã hội. Bản thân bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức đƣợc tác hại của ma túy, biết rằng việc tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm và sẽ bị trừng phạt nhƣng bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức xem thƣờng pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, nhất là trong giai đoạn hiện nay, tình hình tội phạm về ma túy diễn ra ngày càng nhiều, thủ đoạn ngày càng tinh vi, để lại những hậu quả nặng nề, gây nhiều bức xúc cho xã hội.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo có công với cách mạng. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Đối chiếu với mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thƣ đƣợc niêm phong, ghi số vụ 379/PC09 Công an tỉnh Bình Dƣơng có chữ ký của cán bộ niêm phong Nguyễn Thanh Tâm, chữ ký của ngƣời chứng kiến Trần Văn Dƣơng, chữ ký của ông Đặng Minh Đƣợc- Phó Công an phƣờng An Phú đóng dấu mộc đỏ, chữ ký tên của ngƣời có đồ vật tài liệu bị niêm phong là Nguyễn Thị H; chữ ký bên nhận Tô Thanh Tùng, chữ ký bên trả là Đoàn Nguyễn Thiện Quang, bên trong phong bì chứa chất ma túy đã đƣợc giám định; tịch thu sung ngân sách nhà nƣớc 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, kiểu dáng Exciter, màu xanh- trắng, số máy 55P1-071276, số khung RLCE55P10CY071274, xe có 01 kiếng, không chìa khóa, không kiểm tra tình trạng bên trong xe; giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An tiếp tục xác minh, điều tra đối với biển số 61C1-737.19.
Đối với ngƣời thanh niên tên Hùng là ngƣời bán ma túy cho Nguyễn Thị H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã tiến hành xác minh nhƣng chƣa xác định đƣợc lai lịch, địa chỉ nên chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức tiếp tục xác minh xử lý theo quy định.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 – 12 – 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Xử phạt bị cáo 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30 tháng 6 năm 2023.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thƣ đƣợc niêm phong, ghi số vụ 379/PC09 Công an tỉnh Bình Dƣơng có chữ ký của cán bộ niêm phong Nguyễn Thanh Tâm, chữ ký của ngƣời chứng kiến Trần Văn D, chữ ký của ông Đặng Minh Đƣợc- Phó Công an phƣờng An Phú đóng dấu mộc đỏ, chữ ký tên của ngƣời có đồ vật tài liệu bị niêm phong là Nguyễn Thị H; chữ ký bên nhận Tô Thanh Tùng, chữ ký bên trả là Đoàn Nguyễn Thiện Quang, bên trong phong bì chứa chất ma túy đã đƣợc giám định; tịch thu sung ngân sách nhà nƣớc 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, kiểu dáng Exciter, màu xanh- trắng, số máy 55P1-071276, số khung RLCE55P10CY071274, xe có 01 kiếng, không chìa khóa, không kiểm tra tình trạng bên trong xe; giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An tiếp tục xác minh, điều tra đối với biển số 61C1-737.19.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22 tháng 11 năm 2023 giữa Công an thành phố Thuận An và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng).
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Công an thành phố Thuận An; - Bị cáo; - Lƣu: HS,THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |