- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Minh S và đồng phạm - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 323/2022/HS-PT Ngày: 09/8/2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên.
Các Thẩm phán:
1. Ông Phan Thanh Nguyễn.
2. Bà Đoàn Thị Hương Giang.
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Minh Phước – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Thanh Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số
255/2022/HSPT ngày 28/6/2022 đối với các bị cáo Lê Minh S, Lê Lợi Hoàng Đ
do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 78/2022/HS-ST
ngày 12/5/2022 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Lê Minh S, sinh năm 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú:
Tổ A, Ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số 415/3 Tổ 1A,
Ấp A, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ văn hóa: 06/12; nghề
nghiệp: tài xế xe chở rác thuộc Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị
TP.HCM; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam;
con ông Lê Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; có vợ Lê Thị Kim N và 04
con: sinh năm 2009, 2012, ngày 25/5/2020 và ngày 24/6/2022; tiền án, tiền sự:
không. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
2. Lê Lợi Hoàng Đ, sinh năm 2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường
trú: Số A, Ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số A, Ấp B, xã
Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: Phụ
xe chở rác thuộc Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị TP.HCM; dân tộc:
kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh H
và bà Võ Thị L; có vợ Phan Ngọc T, chưa có con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo
tại ngoại (có mặt).
Bị hại: Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1975; nơi thường trú: Tổ A, ấp L, xã B,
huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (vắng mặt).
Người làm chứng: Trần Văn C, sinh năm 1987; trú tại: Thôn A, xã G,
huyện G, tỉnh Quảng Trị (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 03/9/2020, Lê Minh S điều khiển xe ôtô chở
rác biển số 51D-457.20 chở Lê Lợi Hoàng Đ lưu thông đến khu vực Ngã tư Quốc lộ 1A và đường Nguyễn Thị Đặng hướng đến cầu An Sương thì xảy ra va chạm với xe ôtô tải biển số 72C-025.15 do ông Nguyễn Ngọc H điều khiển chở anh Trần Văn C làm xước đầu xe và vỡ kính xe ôtô biển số 51D-457.20. Sau khi xảy ra va chạm, Lê Minh S điều khiển xe ôtô biển số 51D-457.20 đuổi theo xe ôtô tải biển số 72C-025.15 đến trước công viên cây xanh thuộc Tổ 30, khu phố 2, phường Trung Mỹ Tây, Quận 12 thì chặn được xe của ông H. Sau đó S yêu cầu ông H xuống xe để giải quyết việc bồi thường do xảy ra va chạm giao thông thì ông H không xuống giải quyết mà điều khiển xe ôtô tải biển số 72C-025.15 bỏ chạy làm va chạm vào 01 xe ôtô (chưa rõ biển số). Thấy ông H bỏ chạy, do bực tức nên S và Đ cùng quay về xe ôtô chở rác biển số 51D-457.20, mỗi người lấy theo 01 thanh kim loại dài khoảng 65cm. Sau đó, S dùng thanh kim loại ném về phía bên phải kính chắn gió phía trước xe ôtô tải biển số 72C-025.15 làm vỡ kính, S đến nhặt thanh kim loại tiếp tục đập vỡ cửa kính bên trái và kính chiếu hậu bên trái của xe ôtô tải biển số 72C-025.15 rồi bỏ đi. Cùng lúc này, Đ lấy thanh kim loại đập trúng phía bên phải kính chắn gió, đập vỡ kính cửa bên phải và kính chiếu hậu bên phải của xe ôtô tải biển số 72C-025.15 rồi cùng S bỏ đi. Ngoài ra, 01 đối tượng (chưa rõ lai lịch) là tài xế của xe ôtô (chưa rõ biển số) là xe ôtô bị ông H điều khiển xe ôtô va chạm lúc bỏ chạy đã cầm gậy gỗ đập móp cánh cửa bên trái của xe ôtô tải biển số 72C-025.15 gây hư hỏng rồi bỏ đi. Sau đó, ông H đến Công an phường Trung Mỹ Tây trình báo sự việc.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 12, Lê Minh S và Lê Lợi
Hoàng Đ khai nhận nội dung phạm tội như đã nêu trên. S và Đ xin tự khắc phục hậu quả vụ va chạm giao thông, không yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với các hư hỏng của xe ôtô chở rác biển số 51D-457.20.
Kết luận định giá tài sản số 251/KL-HĐĐGTS ngày 13/10/2020 của Hội
đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận 12 kết luận chi phí khắc phục thiệt hại của xe ôtô biển số 72C-025.15 là 6.900.000 đồng. Tại Công văn số 251/CV-TTHS ngày 29 tháng 10 năm 2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận 12 xác định giá trị thiệt hại của từng bộ phận xe ôtô biển số 72C-025.15 gồm: 01 kính chắn gió có giá trị 2.600.000 đồng; 02 kính cửa của cánh cửa có giá trị 2.325.000 đồng;02 kính
chiếu hậu có giá trị là 925.000 đồng; 01 vết móp trên cánh cửa bên trái có giá trị
1.050.000 đồng.
Vật chứng thu giữ: 02 thanh kim loại dài khoảng 65cm và một số mảnh
kính vỡ dày khoảng 03mm.
Về phần dân sự: Ông Nguyễn Ngọc H đã được Lê Minh S và Lê Lợi
Hoàng Đ bồi thường số tiền 6.500.000 đồng nên không yêu cầu bồi thường gì
thêm và làm đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.
Tại Bản cáo trạng số: 91/CT-VKS ngày 22/4/2021, Viện kiểm sát nhân
dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Lê Minh S và Lê
Lợi Hoàng Đ về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật
hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 78/2022/HS-ST ngày 12/5/2022 của Tòa án
nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Lê Minh S, Lê Lợi Hoàng Đ phạm tội “Cố ý làm hư
hỏng tài sản”.
1. Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ
luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Minh S 06
(sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ
luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Lợi Hoàng
Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền
kháng cáo theo luật định.
Ngày 17/5/2022, các bị cáo Lê Minh S, Lê Lợi Hoàng Đ có đơn kháng cáo
đối với bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 12 xin được hưởng án
treo hoặc hình phạt cải tạo không giam giữ.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, các bị cáo Lê Minh S, Lê Lợi
Hoàng Đ đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm. Các bị
cáo đề nghị Tòa xem xét: bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình,
đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, mong muốn được khoan hồng để sửa
chữa lỗi lầm; nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo Lê
Minh S là lao động chính trong gia đình đang phải nuôi 04 con nhỏ, vợ bị cáo
mới sinh con, chưa có việc làm, cha đã mất, mẹ đã lớn tuổi; bị cáo Lê Lợi
Hoàng Đ có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo mới cưới vợ, cha bị cáo mới
mất vào ngày 09/3/2022. Các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được
hưởng án treo hoặc hình phạt cải tạo không giam giữ để có điều kiện sửa chữa
lỗi lầm, trở thành công dân tốt cho xã hội và làm lại cuộc đời.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh xác định bản án sơ thẩm đã áp dụng đúng các căn cứ pháp luật để xử phạt
các bị cáo Lê Minh S, Lê Lợi Hoàng Đ về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự, sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo kháng cáo trong thời gian hợp lệ. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện sữa chữa, bồi thường thiệt hại cho bị hại; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là phù hợp. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn; đã được bị hại bãi nại đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự; trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Nhận thấy, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có đủ các điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên đề nghị xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo việc cải tạo, giáo dục các bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, đề nghị xử phạt các bị cáo, mỗi bị cáo mức hình phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng.
Các bị cáo Lê Minh S, Lê Lợi Hoàng Đ không tranh luận, chỉ nói lời sau
cùng xin được khoan hồng để có điều kiện sửa chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 12,
Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân Quận 12, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân Quận 12, Thẩm phán trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, các bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, các bị cáo Lê Minh S, Lê Lợi
Hoàng Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: vào lúc 20 giờ 00 phút ngày 03/9/2020, do bực tức việc ông Nguyễn Ngọc H bỏ chạy, không xuống xe để giải quyết việc va chạm giao thông giữa xe ôtô tải biển số 72C-025.15 và xe ôtô chở rác biển số 51D-457.20 nên Lê Minh S cùng Lê Lợi Hoàng Đ đã dùng thanh kim loại đập vỡ 01 kính chắn gió, 02 kính cửa của cánh cửa và 02 kính chiếu hậu xe ôtô tải biển số 72C-025.15 với tổng giá
trị bị thiệt hại là 5.850.000 đồng. (Theo Kết luận định giá tài sản số 251/KL-
HĐĐGTS ngày 13/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự -
Ủy ban nhân dân Quận 12). Riêng 01 vết móp trên cánh cửa bên trái xe ôtô tải
biển số 72C-025.15 có giá trị 1.050.000 đồng không phải do các bị cáo gây ra.
Với các hành vi như trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử các bị cáo Lê
Minh S, Lê Lợi Hoàng Đ phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1
Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ,
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định các bị cáo không có tình tiết tăng nặng
trách nhiệm hình sự và xem xét cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự như: các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện sữa
chữa, bồi thường thiệt hại cho bị hại; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm
trọng theo điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ
sung năm 2017 và đã xem xét, đánh giá nguyên nhân phạm tội, tính chất mức độ
do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, từ đó, xử phạt các bị cáo cùng mức án
06 (sáu) tháng tù.
Xét kháng cáo của các bị cáo Lê Minh S, Lê Lợi Hoàng Đ:
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn,
bị cáo Lê Minh S là lao động chính trong gia đình đang phải nuôi 04 con nhỏ, vợ
bị cáo mới sinh con, chưa có việc làm, cha bị cáo đã mất, mẹ bị cáo đã lớn tuổi;
bị cáo Lê Lợi Hoàng Đ có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo mới cưới vợ
ngày 06/5/2022, cha bị cáo mới mất vào ngày 09/3/2022. Các bị cáo có nhân
thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; đã bồi thường cho bị hại cả phần thiệt hại của
đối tượng không rõ lai lịch gây ra; ngoài ra, trong vụ án này bị hại cũng có một
phần lỗi khi xảy ra va chạm giao thông đã không chủ động dừng xe để giải quyết
lại bỏ chạy. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định tại
khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự chưa được cấp sơ thẩm áp dụng nên cần áp
dụng thêm cho các bị cáo khi lượng hình.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra
ít nghiêm trọng. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có
các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã kể trên; có nơi cư trú cụ thể,
rõ ràng; có công việc ổn định là nhân viên Công ty TNHH MTV Môi trường đô
thị TP.HCM; có đủ các điều kiện được hưởng án treo và việc cho các bị cáo
được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến
an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Vì vậy, để tạo điều kiện cho các bị cáo sớm tái hòa nhập cộng đồng, làm
việc, sửa chữa lỗi lầm, trở thành người lương thiện sống có ích cho xã hội và thể
hiện tinh thần nhân đạo, chính sách khoan hồng của pháp luật hình sự đối với
người phạm tội lần đầu. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải bắt các bị
cáo chấp hành hình phạt tù mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cho các bị cáo hưởng án treo với thời gian thử thách nhất định cũng đảm bảo tính răn đe, ngăn ngừa tội phạm.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo
Lê Minh S, Lê Lợi Hoàng Đ, chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, sửa bản án sơ thẩm theo hướng cho các bị cáo được hưởng án treo.
Do chấp nhận kháng cáo nên các bị cáo Lê Minh S, Lê Lợi Hoàng Đ không
phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các vấn đề khác không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố
tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Minh S, Lê Lợi Hoàng Đ, sửa bản
án sơ thẩm số 78/2022/HS-ST ngày 12/5/2022 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
1. Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65
Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Minh S 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Lê Minh S cho Ủy ban nhân dân xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi,
Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi
hành án hình sự 02 lần trở lên, thì tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65
Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Lợi Hoàng Đ 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Lê Lợi Hoàng Đ cho Ủy ban nhân dân xã Đông Thạnh, huyện
Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi
hành án hình sự 02 lần trở lên, thì tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình
sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc Hội, các bị cáo Lê Minh S, Lê Lợi Hoàng Đ không phải chịu án phí
hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
(Đã giải thích án treo).
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - TAND Cấp cao tại TP.HCM; (1) - VKSND TP. HCM; (3) - VKSND Quận 12; (1) - CC THA Quận 12; (1) - Bị cáo; (2) - TAND Quận 12; (2) - Công an Quận 12; (1) - Phòng PV06-CA TP.HCM; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (2) - Sở tư pháp; (1) - Lưu, hình sự, hồ sơ (21) (4) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên |