vanban.org

Bản án 323/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 10/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng P phạm Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng P 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án đƣợc khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/3/2021 cho đến ngày 31/3/2021. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự; Áp dụng Điều 584 và Điều 590 Bộ luật Dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN TRỌNG P PHẠM TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ su…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng P phạm Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 323/2021/HS-ST
Ngày 10-11-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Văn Nhung;

2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Ly, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Trọng An, Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 11 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 257/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2021, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 269/2021/QĐXXST-HS ngày 09/9/2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Trọng P, sinh năm 1997 tại tỉnh Đồng Nai; thƣờng trú: 143 tổ 5, ấp H, xã P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1965 và bà Lê Thị Thanh T, sinh năm 1968; có 02 anh chị ruột, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/3/2021 cho đến ngày 31/3/2021 đƣợc trả tự do, thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 01/4/2021 đến ngày 30/6/2021. Trong thời gian áp dụng biện pháp ngăn chặn bị cáo tiếp tục thục hiện hành vi phạm tội ngày 17/6/2021 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh Đồng Nai khởi tố vụ án, khởi tố bị can và tạm giam về tội trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có. Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác. Bị cáo có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị hại: Công ty Cổ phần đầu tƣ thƣơng mại phát triển N; trụ sở: 18A C, Phƣờng 12, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Trần Thị Kim T, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn 6, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Công ty Cổ phần Thế giới di đ; trụ sở: 128 T, phƣờng T, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngƣời đại diện hợp pháp: Anh Phạm Minh T, sinh năm 1987; địa chỉ: Ấp 1, tổ 3, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

+ Anh A Ly P, sinh năm 1999; địa chỉ: 28 N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1992; địa chỉ: Ấp 1, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phƣớc. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Bị cáo Nguyễn Trọng P là nhân viên lái xe của Công ty cổ phần đầu tƣ thƣơng mại Nhất T, giữa bị cáo và công ty có ký hợp đồng lao động có thời hạn. Nhiệm vụ của bị cáo là nhân viên lái xe vận chuyển hàng hóa giữa các kho của công ty.

Khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 12/3/2021, bị cáo Nguyễn Trọng P điều khiển xe ô tô biển số 50H-00634 đi từ kho của công ty cổ phần đầu tƣ thƣơng mại Nhất T tại phƣờng An Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đến kho của công ty tại khu công nghiệp Sóng Thần, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng để giao hàng. Sau khi giao hàng xong, đến 01 giờ ngày 13/3/2021 bị cáo cùng anh A Ly P bốc hàng khác lên xe để bị cáo điều khiển xe ô tô về giao hàng tại kho Biên Hòa. Quá trình bốc hàng lên xe bị cáo phát hiện hộp giấy bên trong để điện thoại di động hiệu Iphone. Sau khi bốc hàng xong, bị cáo đóng seal cửa sau thùng xe, còn cửa hông thùng xe bị cáo cài một đến hai nấc seal để mở ra và đóng lại mà không bị phát hiện. Sau khi ra khỏi cổng bảo vệ, bị cáo điều khiển ô tô đến đoạn đƣờng Mỹ Phƣớc – Tân Vạn, trƣớc Garage Tân Tính, thuộc khu phố Bình Thung 2, phƣờng Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng thì dừng lại rút seal bên hông thùng xe ra và mở cửa đi lên thùng xe mở 03 hộp giấy lấy tổng cộng là 04 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax 128 GB Blue bỏ vào ba lô cá nhân. Bị cáo nhặt miếng gạch men bỏ vào hộp giấy thay điện thoại rồi đóng niêm phong seal cửa bên hông lại tiếp tục điều khiển ô tô về kho giao xe cho công ty. Đến khoảng 08 giờ ngày 14/3/2021, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 60X2-9949 đem theo 04 điện thoại chiếm đoạt đƣợc đến Thành phố Hồ Chí Minh bán cho một ngƣời đàn ông không rõ lai lịch đƣợc số tiền 107.200.000 đồng. Ngày 15/3/2021 khi gói hàng đƣợc giao đến cửa hàng Điện Máy Xanh địa chỉ ấp Lồ Ồ, xã An Tây, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dƣơng thì bị nhân viên phát hiện không có điện thoại mà bên trong chỉ có miếng gạch nên báo cho Công ty Nhất Tín sự việc. Ngày 23/3/2021 bị cáo Phích đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt.

Vật chứng thu giữ:

+ 01 miếng gạch men;

+ 01 xe mô tô biển số 60X2-9949, số khung A6X61007436, số máy VTMNE152FMHA008270;

+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS;

+ 01 Túi ba lô màu đen.

Theo kết luận định giá số 50/KLĐG-HĐĐGTS ngày 31/3/2021 của Hội đồng định giá thƣờng xuyên trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xác định: 04 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax 128Gb Blue, có tổng trị giá 124.000.000 đồng (Một trăm hai mƣơi bốn triệu đồng).

Tại cáo trạng số 277/CT-VKS ngày 09 tháng 8 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Trọng P về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng P mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nƣớc.

Đối với 01 xe mô tô biển số 60X2-9949 là phƣơng tiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Qua xác minh xe không rõ nguồn gốc đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nƣớc.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với 01 túi ba lô màu đen và 01 miếng gạch men.

Trong quá trình điều tra bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội nhƣ Cáo trạng đã truy tố, tại đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với bị cáo, bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 290, khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị cáo, bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng theo quy định của pháp luật.

Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 01 giờ 00 phút, ngày 13/3/2021 tại khu vực đoạn đƣờng Mỹ Phƣớc – Tân Vạn, trƣớc Garage Tân Tính thuộc khu phố Bình Thung 2, phƣờng Bình An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng bị cáo Nguyễn Trọng P rút seal bên hông thùng xe ôtô tải biển số 50H-00634, mở cửa thùng xe lấy 04 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax 128 GB Blue bỏ vào ba lô, đem đi tiêu thụ.

Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo lợi dụng sự tin tƣởng của bị hại, sau khi đƣợc giao quản lý tài sản đã chiếm đoạt 04 điện thoại trị giá 124.000.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 277/CT-VKS ngày 09 tháng 8 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ, đảm bảo đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với ngƣời phạm tội.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, có nghề nghiệp ổn định, chƣa có tiền án, tiền sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thƣờng số tiền 133.832.500 đồng. Theo kết luận định giá của Hội đồng định giá thành phố Dĩ An xác định tài sản bị cáo chiếm đoạt trị giá 124.000.000 đồng nên chỉ có căn cứ chấp nhận yêu cầu bồi thƣờng cho bị hại số tiền 124.000.000 đồng. Tại đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt bị cáo đồng ý bồi thƣờng cho bị hại số tiền trên nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Xử lý vật chứng:

Xét ngƣời đàn ông giới thiệu bán điện thoại và ngƣời đàn ông mua điện thoại của bị cáo hiện chƣa xác định đƣợc nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS và 01 xe mô tô biển số 60X2-9949, số khung A6X61007436, số máy VTMNE152FMHA008270 là phƣơng tiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nƣớc.

Xét 01 túi ba lô màu đen không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An về việc xử lý vật chứng, áp dụng biện pháp tƣ pháp và hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên đƣợc chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng P phạm Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng P 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án đƣợc khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/3/2021 cho đến ngày 31/3/2021.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự; Áp dụng Điều 584 và Điều 590 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Trọng P bồi thƣờng cho bị hại Công ty cổ phần đầu tƣ thƣơng mại phát triển Nhất T số tiền 124.000.000 đồng (Một trăm hai mƣơi bốn triệu đồng).

Kể từ ngày ngƣời đƣợc yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ngƣời phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng ngƣời phải thi hành án còn phải chịu mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tƣơng ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nƣớc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS và 01 xe mô tô biển số 60X2-9949, số khung A6X61007436, số máy VTMNE152FMHA008270.

- Tịch thu tiêu hủy 01 túi ba lô màu đen và 01 miếng gạch men.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/8/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng).

4. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Nguyễn Trọng P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 6.200.000 đồng (Sáu triệu hai trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc Bản án hoặc kể từ ngày Bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ