- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chềnh A Sy+đp - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 323/2021/HS-PT Ngày: 28- 12 - 2021 |
NHÂN DANH
N ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA N NH N N TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử ph c thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Hương
Các Thẩm phán: Bà Bùi Kim Rết
Bà Hoàng Thị Thu Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 188/2021/TLPT-HS ngày 27 tháng 5 năm 2021 đối với các bị cáo Chềnh A và đồng phạm do có kháng cáo của bị hại và các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 37/2021/HS-ST ngày 20 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Chềnh A, sinh năm 1978 tại Đồng Nai. Nơi cư trú: Hồng T, khu phố A1, phường X, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Chềnh C, sinh năm 1947 (đã chết) và bà Sỳ N, sinh năm 1950. Vợ: Trần Thị H, sinh năm 1978. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/5/2020 đến nay.
2. Đỗ Lai Hồng P, sinh năm 1997 tại Đồng Nai. Nơi cư trú: Ấp 18 Gia Đ, xã B, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Lai H1, sinh năm 1957 và con bà Đào Thị C1, sinh năm 1960. Vợ, con: Chưa có. Bị cáo là con nhỏ nhất trong Gia đình có 03 anh em. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/5/2020 đến nay.
- Bị hại: Anh Nguyễn Anh Đ1, sinh năm 1972. Địa chỉ: Tổ B1, khu phố A1, phường X, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt tại phiên tòa).
- Người bào chữa cho bị cáo A và bị cáo P: Ông Nguyễn Năng Quang, Luật sư Văn phòng Luật sư Tâm Nguyên Luật, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ: 25A Hòa Hưng, phường 12, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt tại phiên tòa).
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại: Luật sư Bùi Quang Vui, thuộc Văn phòng Luật sư Bùi Quang Vui, Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Nai. (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI UNG VỤ N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 ngày 23/02/2020, Đỗ Lai Hồng P điều khiển xe mô tô chở theo sau là Chềnh Nhật Linh, sinh năm 2000 về nhà của Linh tại 20 Hồng T, Tổ B, khu phố A1, phường X, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. Khi đến nhà Linh thì gặp anh Nguyễn Anh Đ1, sinh năm 1972 (là hàng xóm với Linh) do nghi ngờ anh Đức đứng tiểu bậy trước nhà của Linh nên giữa P và anh Đức xảy ra cự cãi nhau. Thấy vậy, Linh gọi điện thoại cho cha ruột của mình là Chềnh A về nhà để giải quyết. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, khi A về đến nhà thì thấy P và Đức đang cự cãi nhau, A liền chạy vào nhà lấy cây gậy bằng gỗ dài khoảng 3m, Đức cũng chạy vào nhà lấy cây xỉa dài 1,5m và cầm cây rựa đưa cho Trần Văn Minh, sinh năm 1986, ngụ tại xã Tiền Phong, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang (là bạn của anh Đức). A dùng cây gỗ, còn Minh dùng cây rựa xông vào đánh nhau liên tiếp làm cây gỗ bị gãy, còn cây rựa cũng bị gãy phần lưỡi sắt. Sau khi cây gỗ bị gãy thì A ném phần cây gỗ còn lại về phía Minh làm Minh bị thương nhẹ ở cánh tay rồi A tiếp tục bỏ chạy qua bên kia đường thì bị trượt chân ngã xuống đất. Thấy vậy, anh Đức liền cầm cây xỉa chạy đến đâm A 01 cái trúng vào cánh tay phải gây chảy máu. A liền đứng dậy chụp lấy cây xỉa và giằng co với anh Đức. Minh cầm 01 cái chén bằng sứ ném về phía anh Đức và A đang giằng co nhau nhưng không trúng ai rồi chạy vào nhà của anh Đức trốn. A giằng được cây xỉa và hất anh Đức ngã xuống đất. Sau đó, A và P cùng xông vào đánh anh Đức. P dùng khúc cây đánh vào người của Đức 02 cái. Tiếp đến, A dùng cây xỉa bằng sắt đã giằng được từ anh Đức đánh 01 cái theo hướng từ trên xuống vào người và trúng vào phần đầu của anh Đức gây chảy máu. P thấy vậy thì tiếp tục xông vào đánh Đức bằng chân thì anh Đức vùng dậy bỏ chạy vào trong nhà. P đuổi theo đến giữa đường thì dừng lại. Sau đó, Công an phường X đến giải quyết vụ việc và đưa anh Đức đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa khu vực Long Khánh.
Theo Kết luận giám định số 0201/TgT/2020 ngày 24/3/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Anh Đ1 có tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Tổn thương máu tụ ngoài màng cứng đã điều trị hiện không còn máu tụ (Áp dụng Chương 1, mục III). Tỷ lệ: 05%.
- Tổn thương máu tụ dưới màng cứng đã điều trị hiện không còn máu tụ (Áp dụng Chương 1, mục III). Tỷ lệ: 08%.
- Tổn thương lún sọ trán, trần hốc mắt trái kích thước 3,6x10,2cm điện não đồ không có tổn thương tương ứng (Áp dụng Chương 1, mục I.4.4). Tỷ lệ: 25%.
- Tổn thương nứt sọ trán thái dương bên trái dài 05cm điện não đồ không có tổn thương tương ứng (Áp dụng Chương 1, mục I.2.2). Tỷ lệ: 15%.
- Tổn thương gãy thành xoang trán trái không di lệch (Áp dụng Chương 12, mục II.4.1). Tỷ lệ: 07%.
- Tổn thương gãy thành xoang hàm trái không di lệch (Áp dụng Chương 12, mục II.4.1). Tỷ lệ: 07%.
- Tổn thương gãy thành ngoài ổ mắt trái không ảnh hưởng thị lực (Áp dụng Chương 10, mục XIII.1). Tỷ lệ: 07%.
- Phần sẹo nằm ngoài chân tóc vùng trán trái kích thước 03x0,3cm lực (Áp dụng Chương 8, mục I.2). Tỷ lệ: 06%.
- Phần sẹo nằm trong chân tóc vùng trán trái kích thước 02x0,3cm lực (Áp dụng Chương 8, mục I.1). Tỷ lệ: 01%.
2. Kết luận:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019, của Bộ trưởng Bộ y tế Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Anh Đ1 áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư là 58% (Năm mươi tám phần trăm).
3. Kết luận khác:
Vật gây thương tích: Vật tày.
Theo Kết luận giám định bổ sung số 0294/TgT/2020 ngày 21/4/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Anh Đ1 có tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Tổn thương gãy xương sườn số 9 bên trái (Áp dụng Chương 3, mục II.1). Tỷ lệ: 02%.
- Tổn thương gãy xương sườn số 10 bên trái (Áp dụng Chương 3, mục II.1). Tỷ lệ: 02%.
2. Kết luận:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019, của Bộ trưởng Bộ y tế Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Anh Đ1 áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư là 60% (Sáu mươi phần trăm).
Theo Kết luận giám định số 0423/GĐHS/2020 ngày 03/6/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đồng Nai, cơ chế hình thành thương tích của Nguyễn Anh Đ1 như sau:
- Vết thương thành sẹo trán trái kích thước 05x0,3cm, trong đó có 03x0,3cm nằm ngoài chân tóc, máu tụ ngoài màng cứng trán thái dương trái, gãy xương trán thái dương bên trái dài 05cm, tụ khí nội sọ. Tổn thương này do vật tày tác động lực mạnh vào vùng trán trái theo hướng từ trái qua phải và hơi chếch xuống dưới, hơi lệch ra sau gây nên.
- Bầm tím vùng mắt, gãy lún sọ trán, trần hốc mắt bên trái kích thước 3,6x10,2cm, gãy thành ổ mắt, gãy thành xoang hàm - sàng - trán trái. Tổn thương này do vật tày (có bề mặt tương đối phẳng) tác động vào vùng mắt và má trái, theo hướng từ trước ra sau gây nên.
- Bầm tím hạ sườn trái, gãy cung bên xương sườn 9-10 bên trái. Tổn thương này do vật tày (có bề mặt tương đối phẳng hoặc vật tày mềm) tác động vào vùng ngực trái vị trí ngang khoảng liên sườn 9-10, theo hướng từ trước ra sau, từ trái qua phải gây nên.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) cây rựa có cán gỗ dài 75cm; 01 (một) cây xỉa bằng sắt có đầu nhọn dài 120cm; 05 (năm) đoạn gỗ màu đỏ nâu, có vết gãy ở phần đầu; 01 (một) khúc cây màu trắng bạc dài 55cm; 01 (một) áo thun ngắn tay có sọc màu xanh đen, hồng nhạt và xanh nhạt, nền màu trắng; 01 (một) quần short ngắn màu kem sữa; 01 (một) áo thun màu trắng ngắn tay có dính nhiều chất màu nâu đỏ (nghi là máu); 01 (một) quần dài dạng thể thao màu xanh đen có sọc đỏ; 01 (một) quần short ngắn bằng Jean màu xanh đen.
Các vật chứng gồm: 01 (một) áo thun ngắn tay có sọc màu xanh đen, hồng nhạt và xanh nhạt, nền màu trắng; 01 (một) quần short ngắn màu kem sữa; 01 (một) áo thun màu trắng ngắn tay có dính nhiều chất màu nâu đỏ (nghi là máu); 01 (một) quần dài dạng thể thao màu xanh đen có sọc đỏ; 01 (một) quần short ngắn bằng Jean màu xanh đen là tài sản của Chềnh A, Đỗ Lai Hồng P và Nguyễn Anh Đ1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu để sử dụng.
Về bồi thường dân sự: Các bị cáo Chềnh A và Đỗ Lai Hồng P đã bồi thường cho anh Đức tổng số tiền là 120 triệu đồng.
* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 37/2021/HS-ST ngày 20 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh đã áp dụng điểm a khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt: bị cáo Chềnh A 04 (bốn) 06 (sáu) tháng tù; xử phạt bị cáo Đỗ Lai Hồng P 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm người bị hại có nhiều đơn kháng cáo và thay đổi nội dung kháng cáo cụ thể:
Ngày 28/4/2021, bị hại Nguyễn Anh Đ1 kháng cáo tăng nặng hình phạt đối với hành vi của bị cáo Đỗ Lai Hồng P, sau đó lại kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Chềnh A (26/6/2021); Trước khi mở phiên tòa ngày 15/12/2021 lại kháng cáo đề nghị thay đổi tội danh đối với các bị cáo cho rằng hành vi của các bị cáo có dấu hiệu tội “Giết người”. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị hại Đức thay đổi kháng cáo đề nghị HĐXX hủy bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại vì cho rằng còn có đồng phạm khác trong vụ án, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm.
Ngày 29/4/2021, bị cáo Chềnh A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo Đỗ Lại Hồng P kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa, các bị cáo giữ nguyên kháng cáo, tiếp tục đề nghị HĐXX xem xét.
- Đại diện VKSND tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa nêu quan điểm vụ án:
Hành vi phạm tội của các bị cáo Chềnh A, Đỗ Lai Hồng P đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1, điểm c Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo P và bị cáo A giữ nguyên kháng cáo, bị hại Đức thay đổi kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm, trả hồ sơ cho cấp sơ thẩm để điều tra lại. Trong vụ án này hành vi của bị cáo Chềnh A là người trực tiếp gây thương tích cho người bị hại nên chịu trách nhiệm với vai trò chính, còn bị cáo P tham gia với vai trò đồng phạm là đúng. Xét hành vi của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội nên cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo mức án là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Trong vụ án này, xét thấy bị cáo P tham gia với vai trò thứ yếu, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo đang đi học nên đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng án treo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật nước ta.
Đối với kháng cáo của bị cáo A, bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết nào mới so với cấp sơ thẩm nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Đối với kháng cáo của bị hại Nguyễn Anh Đ1 là không có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo.
- Luật sư Nguyễn Năng Quang bào chữa cho các bị cáo Chềnh A và Đỗ Lai Hồng P phát biểu quan điểm:
Thống nhất tội danh mà bản án sơ thẩm đã tuyên phạt đối với các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích”. Đối với bị cáo P đủ điều kiện hưởng án treo theo quy định của pháp luật như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Hành vi của bị cáo A xuất phát từ lỗi của người bị hại dẫn đến mâu thuẫn đánh nhau. Bị hại Đức đã có hành vi đâm bị cáo A gây thương tích 2% thương tật, trong quá trình điều tra do bị cáo A rút đơn yêu cầu khởi tố nên cơ quan tố tụng đã đình chỉ đối với bị hại Đức. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo A đã tiếp tục bồi thường cho bị hại 150.000.000đ. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích của bị hại Luật sư Bùi Quang Vui phát biểu ý kiến:
Đối với kháng cáo của bị cáo P xin hưởng án treo là không có căn cứ chấp nhận. Hành vi của các bị cáo có dấu hiệu của tội “Giết người” và bỏ lọt tội phạm như người bị hại đã nêu, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ về cấp sơ thẩm để điều tra, truy tố, xét xử lại theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị hại và các bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Chềnh A và Đỗ Lai Hồng P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu cụ thể:
Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 23/02/2020, tại số nhà 20 Hồng T, thuộc Tổ B, khu phố A1, phường X, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, các bị cáo Chềnh A, Đỗ Lai Hồng P đã có hành vi dùng cây xỉa bằng sắt và dùng tay chân đánh gây thương tích cho anh Nguyễn Anh Đ1, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 60% (Theo Kết luận giám định số 0201/TgT/2020 ngày 24/3/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đồng Nai). Còn luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị hại và bị hại Nguyễn Anh Đ1 lại cho rằng hành vi của các bị cáo có dấu hiệu của tội “Giết người”. Vì các bị cáo đã gây rất nhiều vết thương trên người bị hại. Ngoài ra, luật sư và người bị hại còn cho rằng có vai trò của nhiều người khác mà chưa được cơ quan điều tra làm rõ. Vì vậy, đề nghị HĐXX xem xét hủy án sơ thẩm.
Qua xem xét tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ HĐXX thấy rằng nguyên dân dẫn đến vụ án là do người bị hại có hành vi thiếu văn minh (đã tiểu tiện trước nhà bị cáo A), khi bị phát hiện và nhắc nhở lại còn hung hăng chửi bới dẫn đến đánh nhau, hung khí gây thương tích cho bị hại chính là hung khí của bị hại dùng để tấn công bị cáo Chềnh A (khi bị cáo A bị người bị hại rượt đuổi trượt chân té ngã) cho thấy lỗi ban đầu từ phía người bị hại. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Chềnh A, Đỗ Lại Hồng P về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét lời trình bày của người bị hại và quan điểm bào chữa của luật sư là không có căn cứ, không phù hợp với lời khai của người làm chứng (Bl 147-171) và các tài liệu chứng cứ tại hồ sơ, không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án nên không có cơ sở chấp nhận.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã không những xâm phạm sức khỏe người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trật tự trị an xã hội tại địa phương, nên cần có mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tình chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo nhằm răn đe và phòng ngừa chung. Trong vụ án này, qua tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ cho thấy bị cáo A là người giữ vai trò chính, là người trực tiếp gây thương tích với tỉ lệ 60% cho bị hại. Do đó cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo A 04 năm 06 tháng tù là phù hợp, đã xem xét sau khi gây án bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của người bị hại; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt (chưa có tiền án, tiền sự) nên áp dụng các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), cho bị cáo Chềnh A. Đây là mức án dưới khung quy định của điều luật.
Đối với bị cáo Đỗ Lai Hồng P là đồng phạm tham gia với vai trò thứ yếu, thương tích trên người bị hại chủ yếu do bị cáo A gây ra. Bị cáo cũng có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 BLHS nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng thêm Điều 58 BLHS để xử phạt bị cáo P 02 (hai) năm tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm bị cáo xác định vẫn đang học năm cuối tại trường Đại học Công nghệ miền đông; bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Xét thấy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo và áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cho bị cáo, không cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục là cũng đủ nghiêm, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật đối với người đã biết ăn năn hối cải.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo P có phần phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Đối với bị cáo A không phù hợp nên không được chấp nhận.
[7] Quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[8] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;
Kháng cáo của bị cáo Chềnh A không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Kháng cáo của bị cáo Đỗ Lai Hồng P được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Người bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Anh Đ1 và bị cáo Chềnh A giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 34/2021/HS-ST ngày 20 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh.
Áp dụng điểm a khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Chềnh A 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.
[2] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Lại Hồng P sửa bản án hình sự sơ thẩm số 34/2021/HS-ST ngày 20 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh.
Áp dụng điểm a khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54; Điều 58; Điều 38; Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết 02/2018 NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Lai Hồng P 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo P cho UBND xã B, thành phố Long Khánh giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1, Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án
Các bị cáo đều bị xử phạt về tội “Cố ý gây thương tích”
[3] Về án phí:. Bị cáo Chềnh A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Nai; - TAND TP. Long Khánh (2); - VKSND TP. Long Khánh; - Công an TP. Long Khánh; - Chi cục THADS TP. Long Khánh; - Phòng PV27 CA tỉnh Đồng Nai; - Trại giam - Bị cáo; - Lưu HS (3). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Hồng Hương |