vanban.org

Bản án 322/2024/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 25/07/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/07/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự, ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của b cáo Duy Huỳnh Nhật L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Ngọc T. B cáo Duy Huỳnh Nhật L có nghĩa vụ trả cho Trần Ngọc T số tiền 1.

Ông Trần Ngọc T được nhận số tiền 50.000.000đ (Năm mư i triệu đồng) do b cáo Duy Huỳnh Nhật L nộp theo Biên lai số 0000852 ngày 19/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên. Đối với số tiền 245.000.000 đồng, ông Trần Ngọc T đã cho Duy Huỳnh Nhật L vay là giao d ch dân sự nên ông Trần Ngọc T có … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Duy Huỳnh Nhật L - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự, ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của b cáo Duy Huỳnh Nhật L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Ngọc T. B cáo Duy Huỳnh Nhật L có nghĩa vụ trả cho Trần Ngọc T số tiền 1.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 322/2024/HS-PT
Ngày: 25/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Võ Thị Ngọc Dung

Các thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Tào

Ông Đinh Phước Hòa

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Phong, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thọ Định, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kết nối với điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, xét xử trực tuyến phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 283/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 đối với b cáo Duy Huỳnh Nhật L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do có kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hình sự s thẩm số 29/2024/HSST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

Bị cáo bị kháng cáo:

Duy Huỳnh Nhật L, sinh ngày 10 tháng 11 năm 1994 tại tỉnh Phú Yên. N i cư trú: Khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Nghề nghiệp: Không. Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12, giới t nh: Nữ, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không, quốc t ch: Việt Nam, con ông Duy N, sinh năm 1968 và bà Huỳnh Th Kim L1, sinh năm 1971, sống chung như vợ chồng với Trần Ngọc T, sinh năm 1990, tiền án, tiền sự: Không. B bắt tạm giam từ ngày 15/9/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh P, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Hồng P, Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh P, đ a chỉ: G N, phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo: Ông Trần Ngọc T, sinh năm 1990, n i cư trú: Khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên, có mặt.

B cáo Tr nh Minh T1 và những B hại không kháng cáo, không b kháng ngh , Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Duy Huỳnh Nhật L và Trần Ngọc T sống chung với nhau như vợ chồng, L biết T không có nhiều tiền, do cần tiền tiêu xài và trả nợ cá nhân nên L nói dối và lợi dụng T, thông qua T để T vay tiền đưa cho L, T tin thật nên vay tiền của nhiều người. Để những người cho vay tin tưởng tiếp tục cho vay, L dùng một phần tiền vay trả tiền lãi cho khoản vay trước nên từ tháng 9/2020 đến tháng 6/2022, T vay tiền của Châu Th Hồng H, Nguyễn Th Kim H1, Nguyễn Minh T2 và Tr nh Minh T1 đưa cho L 1.859.000.000 đồng; với thủ đoạn như trên, L trực tiếp nói dối vay của H 581.000.000 đồng. Tổng số tiền Lệ chiếm đoạt là 2.440.000.000 đồng, cụ thể:

Đối với Châu Th Hồng H: Lệ nói dối với T là mẹ và cậu của L b bệnh nên cần tiền chữa bệnh và cho người khác vay lại để hưởng lãi suất chênh lệch, T tin thật, từ tháng 9/2020 đến tháng 3/2022, T hỏi vay tiền H để chữa bệnh cho mẹ và cậu của L, H tin thật cho T vay nhiều lần với tổng số tiền 1.004.000.000 đồng, T đưa cho L, khi T đi vay L đi cùng, L quen biết H nên từ tháng 11/2020 đến ngày 10/3/2022, L nói dối với H cần tiền chữa bệnh cho mẹ và cho người khác vay lại để hưởng lãi suất chênh lệch, H tin thật cho L vay nhiều lần với tổng số tiền 581.000.000 đồng. Lệ chiếm đoạt của H 1.585.000.000 đồng.

Đối với Tr nh Minh T1: Lệ nói dối với T cần tiền cho người khác vay lại để hưởng lãi suất chênh lệch, T tin thật nên từ ngày 22/01/2021 đến ngày 28/4/2022, T 11 lần hỏi vay Tr nh Minh T1 để Lệ đáo hạn ngân hàng, T1 tin thật cho T vay với tổng số tiền 455.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng (120%/ năm), T đưa tiền cho L, đã trả cho T1 513.500.000 đồng tiền lãi, T1 thu lợi bất ch nh 420.083.334 đồng, trong đó có 05 khoản vay, T1 thu lợi từ 30.000.000 đồng trở lên. Lệ chiếm đoạt của T1 455.000.000 đồng.

Đối với Nguyễn Minh T2: Ngày 19/4/2022, L nói dối với T cần 250.000.000 đồng để trả nợ mà anh của L đã vay trả tiền chữa bệnh cho mẹ của L, để T tin, L tạo tài khoản zalo giả danh anh của L nhắn tin cho T xác nhận những gì L nói là thật nên T tin, biết Nguyễn Minh T2 cho vay đáo hạn ngân hàng, T hỏi vay T2 để đáo hạn ngân hàng, T2 tin thật cho T vay 250.000.000 đồng, T đưa tiền cho L. Lệ chiếm đoạt của T2 250.000.000 đồng.

Đối với Nguyễn Th Kim H1: Cuối tháng 6/2022, L nói dối với T cần 120.000.000 đồng để trả tiền viện ph cho cha của L b tai nạn giao thông khi chăm sóc mẹ của L b bệnh, để T tin, L sử dụng zalo giả danh anh của L nhắn tin cho T xác nhận những gì L nói là thật và gửi cho T hình ảnh một người đàn ông nằm cấp cứu nên T tin. T và L gặp H hỏi vay tiền nhưng H không có tiền, H biết H1 cho vay tiền đáo hạn ngân hàng nên giới thiệu L và T vay tiền H1 và yêu cầu L trả 30.000.000 đồng mà L đã mượn trước đó; L, T hỏi vay H1 để đáo hạn ngân hàng, H1 tin thật nên cho L vay 150.000.000 đồng. Lệ chiếm đoạt của H1 150.000.000 đồng.

Tại n án h nh s s thẩm s 29 202

T ngày 2 202 Tòa án nhân dân tỉnh hú ên uy t đ nh:

- Xử phạt: B cáo Duy Huỳnh Nhật L 11 (mười một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù t nh từ ngày bắt tạm giam (ngày 15/9/2023).

- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của b cáo Duy Huỳnh Nhật L với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Ngọc T: B cáo Duy Huỳnh Nhật L có trách nhiệm trả cho Trần Ngọc T số tiền 1.859.000.000 đồng, b cáo đã trả trước 50.000.000 đồng nên còn tiếp tục trả số tiền 1.809.000.000 đồng.

- Quyền khởi kiện đối với số tiền 245.000.000đ, Trần Ngọc T đã cho Duy Huỳnh Nhật L vay.

Ngoài ra, bản án s thẩm còn quyết đ nh về các phần: Trách nhiệm hình sự xử phạt tiền Tr nh Minh T1 về tội “Cho vay lãi nặng trong giao d ch dân sự”, biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự đối với b hại Châu Th Hồng H, án ph và quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.

- Ngày 07/5/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Ngọc T làm đ n kháng cáo Bản án hình sự s thẩm trên, lý do: Bản án tuyên không phù hợp, bỏ sót tội phạm và hình phạt tuyên đối với b cáo L còn nhẹ, chưa đủ t nh răn đe; số tiền bồi thường cho ông chưa thỏa đáng. Ông đề ngh Hội đồng xét xử phúc thẩm: đưa ông Duy Huỳnh L2 vào liên đới bồi thường cho ông; buộc bà L trả đủ số tiền 1 tỷ 859 triệu; gộp chung số tiền 245 triệu đồng bà L mượn xây nhà để trả cho ông trong vụ án này; tăng hình phạt mức cao nhất đối với bà L để đảm bảo t nh răn đe của pháp luật.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người kháng cáo giữ nguyên các yêu cầu kháng cáo.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng: Đối với kháng cáo đề ngh tăng hình phạt, người có quyền, nghĩa vụ liên quan không có quyền đề ngh HĐXX đình chỉ yêu cầu này; các yêu cầu kháng cáo về trách nhiệm dân sự đề ngh Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận, giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm.

Luật sư bào chữa cho b cáo: Thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, đề ngh HĐXX phúc thẩm giữ nguyên Bản án s thẩm đã tuyên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Căn cứ khoản 4 Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Ngọc T không có quyền kháng cáo phần hình phạt đối với b cáo.

Xét, lời khai nhận tội của b cáo Duy Huỳnh Nhật L phù hợp với đ n tố cáo và lời khai của những người b hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ s vụ án, có đủ c sở kết luận: Từ tháng 9/2020 đến tháng 6/2022, b cáo Duy Huỳnh Nhật L đã thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt của 04 người tổng cộng 2.440.000.000đ. Do đó, Bản án hình sự s thẩm số 29/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử b cáo Duy Huỳnh Nhật L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết đ nh khung tăng nặng “Chiếm đoạt tài sản tr giá 500.000.000 đồng trở lên” theo quy đ nh tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội. Và Tòa án s thẩm đã đánh giá đúng t nh chất, mức độ hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng của b cáo và áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đ nh tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự nên áp dụng quy đ nh tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt b cáo Duy Huỳnh Nhật L với mức án 11 năm tù là phù hợp.

C quan tiến hành tố tụng tại cấp s thẩm đã đưa ông Duy Huỳnh L2 vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đã chứng minh rõ việc b cáo L dùng thủ đoạn lập Z giả danh ông L2 để lừa dối vay tiền của ông T, ông L2 hoàn toàn không biết nên ông L2 không có nghĩa vụ liên quan đến số tiền b cáo L đã chiếm đoạt của các b hại cũng như của ông T.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Ngọc T yêu cầu b cáo Duy Huỳnh Nhật L hoàn trả số tiền 1.859.000.000đ. B cáo L đồng ý trả cho trả cho Trần Ngọc T số tiền 1.859.000.000đ. Đây là sự thỏa thuận tự nguyện giữa các bên, phù hợp với quy đ nh của pháp luật nên Tòa án cấp s thẩm ghi nhận, b cáo L khắc phục nộp tại Cục thi hành án dân sự 50 triệu đồng trả cho ông T nên số tiền tại Quyết đ nh của Bản án hình sự s thẩm tuyên buộc b cáo L tiếp tục trả cho ông T số tiền là 1.809.000.000đ (Một tỷ, tám trăm lẻ ch n triệu đồng) là ch nh xác.

Đối với số tiền 245.000.000đ ông Trần Ngọc T đã cho Duy Huỳnh Nhật L vay là giao d ch dân sự nên Trần Ngọc T có quyền khởi kiện Duy Huỳnh Nhật L để đòi lại số tiền 245.000.000đ này bằng vụ kiện dân sự khác như Tòa án cấp s thẩm nhận đ nh là phù hợp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Trần Ngọc T không cung cấp tài liệu chứng cứ nào khác và như phân t ch tại các mục [3], [4] và [5] nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông T, giữ nguyên quyết đ nh của Bản án s thẩm đã tuyên là phù hợp.

Chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tại phiên tòa.

Các quyết đ nh khác của Bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực, Hội đồng xét xử không xem xét.

Án ph : ông T kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự nên phải ch u án ph dân sự phúc thẩm theo quy đ nh tại Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Ngọc T, giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm số 29/2024/HSST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

2. Trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự, ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của b cáo Duy Huỳnh Nhật L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Ngọc T. B cáo Duy Huỳnh Nhật L có nghĩa vụ trả cho Trần Ngọc T số tiền 1.859.000.000 đồng, b cáo đã trả trước số tiền 50.000.000đ nên còn phải tiếp tục hoàn trả số tiền 1.809.000.000đ (Một tỷ, tám trăm lẻ ch n triệu đồng).

Ông Trần Ngọc T được nhận số tiền 50.000.000đ (Năm mư i triệu đồng) do b cáo Duy Huỳnh Nhật L nộp theo Biên lai số 0000852 ngày 19/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.

3. Đối với số tiền 245.000.000 đồng, ông Trần Ngọc T đã cho Duy Huỳnh Nhật L vay là giao d ch dân sự nên ông Trần Ngọc T có quyền khởi kiện Duy Huỳnh Nhật L để đòi lại số tiền 245.000.000 đồng bằng một vụ kiện dân sự khác.

4. Về án ph phúc thẩm: Căn cứ Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án, ông Trần Ngọc T phải ch u 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền ông đã tạm ứng án ph 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004384 ngày 22/5/2024 của Cục thi hành án Dân sự tỉnh Phú Yên.

4. Các quyết đ nh khác của Bản án hình sự s thẩm số 29/2024/HSST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên không b kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng ngh .

Kể từ ngày có đ n yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong nghĩa vụ của mình thì phải ch u khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy đ nh tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

N i nhận:

Cỡ chữ