vanban.org

Bản án 322/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc L.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Ngọc L và anh Đặng Tấn H. Về nuôi con chung: Giao con chung Đặng Huỳnh N, sinh ngày 26/01/xxxx cho chị Nguyễn Ngọc L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đặng Tấn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc L.
  • Căn cứ chính? Luật Thi hành án dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 322 /2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25/7/2023
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Huỳnh Thị Long

2. Ông Nguyễn Văn Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Lan, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền, Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 514/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2023/QĐXXST-HNST ngày 29 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc L, sinh năm xxxx, có mặt

Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện G, tỉnh Tiền Giang;

2. Bị đơn: Anh Đặng Tấn H, sinh năm xxxx, vắng mặt

Địa chỉ: Ấp H, xã P, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 21 tháng 11 năm 2022 và quá trình xét xử, nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc L trình bày: Chị L và anh H tổ chức cưới vào năm 2000, có đăng ký kết hôn, sống hạnh phúc đến 2018 phát sinh mâu thuẫn gia đình, do anh H thường uống rượu, không lo làm ăn, chị L đi bán chung với người bạn thì anh H ghen cho rằng chị L đồng tình luyến ái với bạn, mỗi khi anh H uống rượu về nhà là kiếm chuyện cự cãi rồi dùng dao dọa cắt cổ chị L. Năm 2020 vợ chồng không chung sống cho đến nay, tình cảm không còn, nên chị L yêu cầu ly hôn.

Vợ chồng có 02 con chung Đặng Thanh P sinh ngày 09/5/xxxx đã trưởng thành, Đặng Huỳnh N sinh ngày 26/01/xxxx đang sống với chị L. Chị L yêu cầu trực tiếp nuôi con chung Đặng Huỳnh N, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con vì nhận thấy anh H không có điều kiện cấp dưỡng nuôi con.

Vợ chồng không có tài sản chung.

* Quá trình giải quyết vụ án anh Đặng Tấn H vắng mặt, không có lời trình bày.

* Ý kiến của Viện kiểm sát: Trong quá trình thụ lý và xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Ngọc L. Chị L được ly hôn anh Đặng Tấn H. Về con, giao con chung Đặng Huỳnh N, sinh ngày 26/01/xxxx cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H chưa phải cấp dưỡng nuôi con do chị L chưa yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Việc nộp đơn khởi kiện, thụ lý đơn và thẩm quyền giải quyết của Tòa án đúng quy định; Việc thu thập tài liệu chứng cứ, thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Đặng Tấn H được Tòa án triệu tập hợp lệ phiên tòa lần thứ hai vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh H.

Về hôn nhân, chị Nguyễn Ngọc L và anh Đặng Tấn H tự nguyện kết hôn, được UBND xã Phước Trung, huyện Gò Công Đông cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 26 ngày 10/10/1999, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn gia đình như chị L trình bày, nên chị L yêu cầu Tòa giải quyết ly hôn. Tòa án triệu tập anh H nhiều lần đến Tòa để hòa giải hàn gắn tình cảm, nhưng anh không đến, không gởi cho Tòa án ý kiến của anh về việc chị L yêu cầu ly hôn, cho thấy anh H không muốn duy trì hôn nhân. Xét tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L.

Về nuôi con chung, xác minh ở địa phương được biết chị L trực tiếp nuôi con chung, nguyện vọng của cháu Như muốn tiếp tục sống với chị L, nên giao cho chị L trực tiếp nuôi con chung phù hợp Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận chị L không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, ghi nhận đương sự không yêu cầu giải quyết.

Án phí sơ thẩm: Chị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

Đề nghị của Viện kiểm sát có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc L.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Ngọc L và anh Đặng Tấn H.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung Đặng Huỳnh N, sinh ngày 26/01/xxxx cho chị Nguyễn Ngọc L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đặng Tấn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Ngọc L phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ số tiền 300.000 đồng theo biên lai số 0028376 ngày 13/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ