vanban.org

Bản án 322/2023/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 10/05/2023 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/05/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác kháng cáo của Công ty TNHH T1.

Về án phí: Công ty TNHH T1 phải chịu án phí hành chính phúc thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp theo Biên lai số 000397 ngày 04/4/2022 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "NKK: Công ty TNHH T1 - NKK: Chánh Thanh tra Sở Giao thông Vận tải thành phố H"
  • Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của Công ty TNHH T1.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 225 Luật Tố tụng hành chính; Điều 241 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 322/2023/HC-PT
Ngày: 10/5/2023
V/v: “Khiếu kiện quyết định xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ”.

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Trọng;

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Điền;

Ông Nguyễn Tiến Dũng.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Vĩnh, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 10 tháng 5 năm 2023, tại Phòng xét xử trực tuyến trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và Phòng xét xử trực tuyến trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử trực tuyến công khai vụ án hành chính thụ lý số 262/2022/TLPT-HC ngày 27 tháng 6 năm 2022 về việc: “Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ”. Do có kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2022/HC-ST ngày 06/01/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4591/2023/QĐ-PT ngày 24 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Công ty TNHH T1; địa chỉ: Lô C khu công nghiệp Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng (sau đây gọi tắt là Công ty T1).

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Văn T - Tổng giám đốc; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện: Ông Nguyễn Thái N, Luật sư Văn phòng Luật sư Nguyễn Thái N, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H, có mặt.

2. Người bị kiện: Chánh Thanh tra Sở Giao thông Vận tải thành phố H;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Tiến N1, Chánh thanh tra;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức C, Phó Chánh thanh tra; Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện: Ông Lê Đức B, Luật sư Văn phòng L, thuộc Đoàn luật sư thành phố H; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

I. Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, các bản tự khai, biên bản đối thoại, người khởi kiện trình bày:

Công ty TNHH T1 (gọi tắt là Công ty T1) là chủ sử dụng và sở hữu hợp pháp 16.800m2 đất và tài sản gắn liền với đất tại lô CN3.2H, khu công nghiệp Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BN 877627 cấp ngày 22/5/2013 của UBND thành phố H. Vị trí khu đất này tiếp giáp dải đất trống thuộc hành lang lưới điện hạ thế do đơn vị điện lực quản lý ra đường 356 (đường 356 là đoạn tuyến thuộc Quốc lộ E do Bộ G quản lý). Năm 2019, Công ty M1 sản xuất kinh doanh bằng việc đầu tư xây dựng trạm đăng kiểm và nhà văn phòng theo Giấy phép xây dựng số 2197 và Văn bản điều chỉnh thông tin số 4066 nêu tên. Để tiện việc tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty có mở cổng đi qua dải đất trống hành lang lưới điện ra đường C. Việc mở cổng ra đường 356 phải đi qua dải đất trống thuộc hành lang lưới điện hạ thế do bên điện lực quản lý, đây không phải là đất dành cho đường bộ.

Tuy nhiên ngày 17/8/2020, Chánh Thanh tra Sở Giao thông Vận tải thành phố H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0009739/QĐ-XPVPHC đã áp dụng điểm b khoản 9 Điều 12 của Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 xác định hành vi vi phạm hành chính của Công ty T1 là “Mở đường nhánh đấu nối trái phép vào đường chính”, xử phạt hành chính 35.000.000 đồng và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả “Buộc phải tháo dỡ công trình xây dựng trái phép và khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra” là không đúng. Cổng mở ra đường 356 của Công ty T1 không sử dụng, khai thác đất trong phạm vi dành cho đường bộ. Phần đất trống nằm trước cổng Công ty T1 là đất hành lang lưới điện hạ thế do đơn vị điện lực quản lý. Như vậy, Chánh thanh tra Sở Giao thông Vận tải thành phố H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 9739/QĐ-XPVPHC nêu trên là trái pháp luật.

Ngày 21/01/2021 ông C1 Thanh tra Sở Giao thông Vận tải thành phố H đã chỉ đạo thuộc cấp thực hiện hành vi lắp đặt hàng rào bao quanh lối ra vào cổng của Công ty T1 là trái pháp luật gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của công ty. Vì vậy, Công ty TNHH T1 yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0009739/QĐ-XPVPHC ngày 18/7/2020 của Chánh Thanh tra Sở Giao thông Vận tải thành phố H.

- Buộc trả lại cho Công ty TNHH T1 số tiền 35.000.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền phạt số 0007176 ngày 17/9/2020 của Kho bạc Nhà nước A.

- Buộc Chánh thanh tra Sở Giao thông Vận tải thành phố H phải tháo dỡ ngay toàn bộ rào chắn trước cổng ra vào của Công ty TNHH T1.

- Áp dụng Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước buộc Chánh Thanh tra Sở G phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 9739 gây ra.

* Tại phiên tòa, người đại diện theo pháp luật của người khởi kiện tự nguyện rút 02 yêu cầu khởi kiện: Buộc Chánh thanh tra Sở Giao thông Vận tải thành phố H phải tháo dỡ ngay toàn bộ rào chắn trước cổng ra vào của Công ty TNHH T1 và yêu cầu khởi kiện áp dụng Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước buộc Chánh thanh tra Sở giao thông vận tải phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 9739 gây ra.

II. Quan điểm của Người bị kiện tại các văn bản ghi ý kiến, biên bản đối thoại:

Đường Đình V (trước đây là đường 356) là đường do UBND thành phố H quản lý. Ngày 29/10/2013, UBND thành phố H ban hành Quyết định số 2133/QĐ-UBND về việc phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng mở rộng đường trục qua khu công nghiệp Đ, thành phố Hải Phòng.

Công tác thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành đảm bảo an toàn giao thông, bảo vệ công trình giao thông, kết cấu hạ tầng đường bộ do UBND thành phố quản lý là trách nhiệm của Sở Giao thông vận tải.

Công ty T1 đấu nối đường nội bộ của Công ty với đường Đ không có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền cấp là vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ.

Việc Chánh thanh tra Sở Giao thông Vận tải thành phố H ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 9739/QĐ-XPVPHC ngày 18/7/2020 đối với Công ty T1: Lỗi vi phạm “Mở đường nhánh đấu nối trái phép vào đường chính”; số tiền xử phạt là 35.000.000 đồng là đúng theo quy định tại Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt (tại điểm b khoản 9 Điều 12 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP). Như vậy việc Công ty T1 yêu cầu hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nêu trên là không có cơ sở.

Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 9739/QĐ-XPVPHC ngày 18/7/2020 là đúng quy định của pháp luật nên yêu cầu trả lại số tiền 35.000.000 đồng cho công ty T1 là không có cơ sở.

Đối với yêu cầu buộc Chánh Thanh tra Sở Giao thông Vận tải thành phố H phải tháo dỡ rào chắn trước cổng ra vào Công ty T1, Chánh Thanh tra Sở Giao thông Vận tải thành phố H không chỉ đạo, không rào chắn trước cổng ra vào của Công ty T1 nên không có trách nhiệm về yêu cầu này. Quyết định hành chính 9739/QĐ-XPVPHC ngày 18/7/2020 là đúng thẩm quyền, đúng quy định của pháp luật nên không có cơ sở xem xét bồi thường theo luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước của người khởi kiện.

Do đó, người bị kiện đề nghị Tòa án không chấp nhận toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.

III. Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2022/HC-ST ngày 06/01/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193; khoản 2 Điều 173 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Bác các yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T1 về việc:

Hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0009739/QĐ-XPVPHC ngày 18/7/2020 của Chánh thanh tra Sở Giao thông Vận tải thành phố H.

Buộc trả lại cho Công ty TNHH T1 số tiền 35.000.000 (Ba mươi lăm triệu) đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền phạt số 0007176 ngày 17/9/2020 của Kho bạc Nhà nước A.

2. Đình chỉ xét xử đối với các yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện về việc:

Buộc Chánh Thanh tra Sở Giao thông Vận tải thành phố H phải tháo dỡ ngay toàn bộ rào chắn trước cổng ra vào của Công ty TNHH T1.

Áp dụng Luật Trách nhiệm bồi thường Nhà nước buộc Chánh thanh tra Sở G phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0009739/QĐ-XPVPHC ngày 18/7/2020 của Chánh thanh tra Sở Giao thông Vận tải thành phố H gây ra.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 12/01/2022 người khởi kiện Công ty TNHH T1 có đơn kháng cáo toàn bộ nội dung vụ án.

IV. Tại phiên tòa:

1. Người khởi kiện cho rằng: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Chánh Thanh tra Sở G lỗi: “mở đường nhánh, đấu nối trái phép vào đường chính” là không chính xác. Bởi lẽ phần đất xử phạt là đất hành lang lưới điện, không phải đất hành lang giao thông nên thuộc sự quản lý của điện lực chứ không phải của Sở Giao thông. Biên bản vi phạm hành chính không ghi rõ thời điểm vi phạm để làm căn cứ xác định thời hiệu xử lý vi phạm hành chính, không ghi rõ địa điểm vi phạm. Biên bản vi phạm có tên ông Phạm Minh C2 trong thành phần nhưng không có chữ ký của ông C2 là không đúng theo quy định của pháp luật. Biên bản vi phạm cũng không có người làm chứng, người chứng kiên. Do đó, biên bản vi phạm hành chính lập không phù hợp với quy định của pháp luật nên không phải là căn cứ để ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

- Phía người bị kiện không có chứng cứ nào chứng minh Công ty T1 vi phạm hành chính. Trong giấy phép thi công tạm thời ghi rõ Sở giao thông vận tải phải đến bàn giao địa điểm để đấu nối. Sau khi đấu nối xong, Công ty phải bàn giao lại cho Sở giao thông vận tải. Tuy nhiên không có việc các bên bàn giao mặt bằng đấu nối cho nhau. Giấy phép hết hạn năm 2011 nhưng công ty T1 vẫn sử dụng đường đấu nối thì đây là lỗi của thanh tra giao thông quản lý không chặt chẽ chứ không phải lỗi của Công ty T1.

Điều 12 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính đất giao thông đường bộ. Sở giao thông xác định phần đất Công ty T1 nền là đất hành lang lưới điện không phải đất giao thông đường bộ nên Sở G không được phép xử phạt và yêu cầu Công ty khắc phục hậu quả. Nếu công ty T1 có vi phạm thì hành vi vi phạm bắt đầu từ ngày hết hạn giấy phép là năm 2011. Đến năm 2020 đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính. Nếu có vi phạm và bị xử phạt thì mức tối đa là 20.000.000 đồng, Chánh Thanh tra xử phạt 35.000.000 đồng là vượt quá thẩm quyền. Do đó, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Chánh Thanh tra Sở Giao thông vận tải là vi phạm pháp luật và cần phải thu hồi, hủy bỏ quyết định này. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.

- Sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm, Người khởi kiện đề nghị được đọc Biên bản phiên tòa nhưng không được Thẩm phán, Thư ký phiên tòa đồng ý là vi phạm tố tụng, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét.

2. Quan điểm của người bị kiện

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là hoàn toàn có căn cứ. Bởi lẽ tháng 7/2020 qua kiểm tra đã phát hiện ra vi phạm của Công ty T1 và lúc này hành vi vi phạm vẫn đang diễn ra. Do đó, Sở Giao thông có thẩm quyền ra quyết định xử phạt. Biên bản vi phạm hành chính đã có chữ ký của ông Đỗ Khắc M là người lập biên bản nên không cần thiết ông C2 phải ký. Quá trình phát hiện xử lý vi phạm Công ty T1 rất hợp tác, không chống đối nên việc lập biên bản không cần thiết phải có người làm chứng. Tại Biên bản có ghi đầy đủ ngày giờ là vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 13/7/2020 tại Km 1+865 đường T, H, Hải Phòng. Quá trình lập biên bản, thông báo xử phạt, ra quyết định xử phạt công ty T1 luôn hợp tác, tự nguyện nộp phạt. Quy trình thủ tục Thanh tra Sở G đã thực hiện đầy đủ theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.

3. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao Hà Nội về vụ án như sau:

3.1. Về thủ tục tố tụng

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Đã chấp hành các quy định của Luật tố tụng hành chính trong quá trình giải quyết vụ án.

- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này các đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

- Căn cứ Điều 204, 205, 206, Luật Tố tụng hành chính năm 2015, đơn kháng cáo của người khởi kiện đảm bảo về quyền kháng cáo, nội dung đơn kháng cáo trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thù tục phúc thẩm.

3.2. Về nội dung kháng cáo:

Đối với yêu cầu hủy Quyết định xử phạt vỉ phạm hành chính số 0009739/QĐ-XPVPHC ngày 18/7/2020 của Chánh Thanh tra Sở giao thông vận tảỉ thành phổ Hải Phòng và buộc trả lại công ty T1 số tiền 35.000.000 đồng đã nộp và yêu cầu buộc trả lại cho Công ty T1 sổ tiền 35.000.000 đồng đã tại Kho bạc Nhà nước A.

- Tại Giấy phép thi công tạm thời số 90/GPTC-GTVT ngày 29/8/2011 thể hiện Sở Giao thông Vận tải thành phố H đồng ý cấp phép cho Công ty T1 được đấu nối thi công tạm thời để phục vụ thi công cơ sở hạ tầng theo hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công cùa chủ đầu tư lập tháng 7/2011. Thời gian thi công từ ngày 29/8/2011 đến ngày 31/12/2011. Khi kết thúc thi công phải bàn giao lại mặt bằng, hiện trường cho đơn vị quản lý đường bộ.

Ngày 07/7/2020, Đội thanh tra giao thông số E thuộc Thanh tra Sở Giao thông Vận tải thành phố H tiến hành kiểm tra việc đấu nối đường tạm vào đường C Đ, Tại Biên bản kiểm tra hiện trường điểm thi công và mở đấu nối đường vào trung tâm Đ với đường 356 Đình Vũ ngày 07/7/2020 do Đội thanh tra giao thông số E thuộc Thanh tra Sở Giao thông Vận tải thành phố H lập thể hiện “Tại thời điểm kiểm tra, đơn vị thi công thực hiện việc san nên, dải bê tông nhựa apphant đường vào Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 1506D trên phần đất tiếp giáp với bành lang an toàn giao thông và nối với điểm mở ra đường C Đ. Điểm mở đường đấu nối có kích thước dài 18m x 7,5m. Tại thời điểm kiểm tra chưa kiểm tra được hồ sơ xin cấp phép mở đấu nối ra đường 356 Đình Vũ tại vị trí nêu trên”.

Sau khi tiến hành kiểm tra, Thanh tra Sở Giao thông Vận tải thành phố H phát hiện vi phạm của Công ty T1 nên ngày 13/7/2020, Thanh tra Sở giao thông vận tải tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ xác định Công ty T1 có hành vi vi phạm hành chính là

“Mở đường nhánh đấu nối trái phép vào đường chính” với mức xử phạt là 35.000.000 đồng.

Tại Hồ sơ bản vẽ thi công đấu nối giao thông của Chủ đầu tư Công ty kèm theo biên bản đối thoại ngày 06/8/2022 thể hiện phần diện tích đất Thanh tra Sở G xử phạt công ty T1 về hành vi đấu nối là phần vỉa hè đường, nằm giữa đường gom của đường C và đất hành lang an toàn lưới điện. Cho thấy việc Công ty T1 đấu nối đường tạm tại K+865,5 và Kml+926.2 vào đường trục Đình V chỉ được cấp phép tạm thời theo Giấy phép số 90/GPTC-GTVT ngày 29/8/2011 của Sở Giao thông Vận tải thành phố H nhằm phục vụ việc thi công cơ sở hạ tầng của Công ty T1, thời gian thi công từ ngày 29/8/2011 đến ngày 31/12/2011. Sau khi thi công xong cơ sở hạ tầng, Công ty T1 không bàn giao lại mặt bằng hiện trường cho đơn vị quản lý đường bộ (như trong Giấy phép) mà tiếp tục sử dụng đường tạm đấu nối ra đường C Đ. Tại thời điểm Thanh tra Sở G tiến hành kiểm tra hiện trường, công ty vẫn đang vi phạm do giấy phép thi công đã hết hạn và hiện công ty T1 vẫn đang sử dụng đường đầu nối.

- Biên bản vi phạm hành chính được thể hiện các nội dung cụ thể sau: Biên bản được lập vào hồi 08h30 ngày 13/7/2020 tại Kml+ 865 đường Trục Đình Vũ, H, Hải Phòng; căn cứ hành vi vi phạm tại thời điểm kiểm tra; tại Biên bản có các chữ ký của ông Đỗ Khắc M (Thanh tra Sở giao thông), đại diện Công ty TNHH T1 có chữ ký ông Đoàn Văn T (Giám đốc). Công ty T1 không có giải trình gì đối với Biên bản vị phạm hành chính ngày 13/7/2020. Ngày 18/7/2020, Thanh tra Sở G đã căn cứ vào Biên bản vi phạm hành chính và quy định của pháp luật để ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0009739/QĐ-XPVPHC xử phạt Công ty T1 về hành vi vi phạm “Mở đường nhánh đẩu nối vào đường chính” với mức phạt 35.000.000 đồng. Ngày 17/9/2020, Công ty T1 đã nộp phạt tại Kho bạc Nhà nước A, Hải Phòng.

Tại Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định về thời hiệu xử lý vi phạm hành chính: “...Đối với vi phạm hành chính đã kết thúc thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm. Đối với vi phạm hành chính đang được thực hiện thì thời hiệu được tính từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm;...”. Tại Khoản 9 Điều 12 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt đối với tồ chức với mức phạt từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng khi thực hiện hành vi “Mở đường nhánh đấu nối trái phép vào đường chính”. Thẩm quyền xử phạt của Chánh thanh tra Sở được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 46 Luật Xử lý vi phạm Hành chính. Đối chiếu với các quy định của pháp luật thì Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0009739/QĐXPVPHC ngày 18/7/2020 của Chánh thanh tra Sở Giao thông Vận tải thành phố H là có căn cứ.

Từ những phân tích nêu trên, không có cơ sở chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện. Do đó, đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Căn cứ khoản 1, Điều 241 Luật Tố tụng hành chính 2015, không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện; giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2022/HC-ST ngày 06/01/2022 của TAND TP Hải Phòng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của người khởi kiện Công ty TNHH T1 được gửi đến Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đảm bảo đúng thời hạn, hình thức, nội dung phù hợp với quy định tại các điều 204, 205, 206 Luật Tố tụng hành chính, do đó được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào K2 Điều 225 Luật Tố tụng hành chính 2015 tiến hành xét xử.

.Về thẩm quyền xét xử:

Theo Đơn khởi kiện, người khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên: Hủy quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0009739/QĐ-XPVPHC ngày 18/7/2020 của Chánh Thanh tra Sở Giao thông Vận tải thành phố H; Buộc trả lại cho Công ty TNHH T1 số tiền 35.000.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền phạt số 0007176 ngày 17/9/2020 của Kho bạc Nhà nước A; Buộc Chánh thanh tra Sở Giao thông Vận tải thành phố H phải tháo dỡ ngay toàn bộ rào chắn trước cổng ra vào của công ty TNHH T1. Áp dụng Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước buộc Chánh thanh tra Sở giao thông vận tải phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 9739 gây ra.

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng là đúng.

[1.2.].Về thời hiệu khởi kiện:

- Ngày 18/3/2021, Công ty T1 nộp đơn khởi kiện đối với Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0009739/QĐ-XPVPHC ngày 18/7/2020 của Chánh Thanh tra Sở Giao thông Vận tải thành phố H. Căn cứ khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính, đơn khởi kiện vẫn trong thời hiệu khởi kiện và được Tòa án xem xét giải quyết.

. Xét nội dung kháng cáo thấy:

. Tại đơn khởi kiện, bản tự khai của Công ty T1 có nêu: “Năm 2019, Công ty có mở cổng đi qua dải đất trống thuộc hành lang lưới điện ra đường C. Việc mở cổng ra đường 356 phải đi qua dải đất trống thuộc hành lang lưới điện hạ thế do bên điện lực quản lý, đây không phải là đất hành lang cho đường bộ”. Tuy nhiên, tại Giấy phép thi công tạm thời số 90/GPTC-GTVT ngày 29/8/2011 thể hiện Sở Giao thông Vận tải thành phố H đồng ý cấp phép cho Công ty T1 được đấu nối thi công tạm thời để phục vụ thi công cơ sở hạ tầng theo hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công của chủ đầu tư lập tháng 7/2011. Thời gian thi công từ ngày 29/8/2011 đến ngày 31/12/2011. Khi kết thúc thi công phải bàn giao lại mặt bằng, hiện trường cho đơn vị quản lý đường bộ.

- Ngày 07/7/2020, Đội Thanh tra giao thông số E thuộc Thanh tra Sở Giao thông Vận tải thành phố H tiến hành kiểm tra việc đấu nối đường tạm vào đường C Đ. Biên bản kiểm tra hiện trường điểm thi công và mở đấu nối đường vào trung tâm Đ với đường 356 Đình Vũ ngày 07/7/2020 do Đội thanh tra giao thông số E thuộc Thanh tra Sở Giao thông Vận tải thành phố H lập thể hiện “Tại thời điểm kiểm tra, đơn vị thi công thực hiện việc san nền, dải bê tông nhựa apphant đường vào Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 1506D trên phần đất tiếp giáp với hành lang an toàn giao thông và nối với điểm mở ra đường C Đ. Điểm mở đường đấu nối có kích thước dài 18m x 7,5m. Tại thời điểm kiểm tra chưa kiểm tra được hồ sơ xin cấp phép mở đấu nối ra đường 356 Đình Vũ tại vị trí nêu trên”.

- Qua kiểm tra, Thanh tra Sở Giao thông Vận tải thành phố H phát hiện vi phạm của Công ty T1 nên ngày 13/7/2020, Thanh tra Sở G tiến hành lập Biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ xác định Công ty T1 có hành vi vi phạm hành chính là “Mở đường nhánh đấu nối trái phép vào đường chính” với mức xử phạt là 35.000.000 đồng.

- Hồ sơ bản vẽ thi công đấu nối giao thông của Chủ đầu tư Công ty TNHH T1 tháng 07/2011 và Sơ đồ lối vào công ty T1 kèm theo biên bản đối thoại ngày 06/8/2022 thể hiện phần diện tích đất Thanh tra Sở giao thông xử phạt công ty T1 về hành vi đấu nối là phần vỉa hè đường, nằm giữa đường gom của đường C và đất hành lang an toàn lưới điện.

Như vậy, có cơ sở khẳng định Công ty T1 có thực hiện việc đấu nối đường tạm tại Km1+865,5 và Km1+926.2 vào đường T. Việc đấu nối được cấp phép tạm thời theo Giấy phép số 90/GPTC-GTVT ngày 29/8/2011 của Sở Giao thông Vận tải thành phố H nhằm phục vụ việc thi công cơ sở hạ tầng của Công ty T1, thời gian thi công từ ngày 29/8/2011 đến ngày 31/12/2011. Tuy nhiên, sau khi thi công xong cơ sở hạ tầng, Công ty T1 không bàn giao lại mặt bằng hiện trường cho đơn vị quản lý đường bộ (như trong Giấy phép) mà tiếp tục sử dụng đường tạm đấu nối ra đường C Đ. Tại thời điểm Thanh tra Sở G tiến hành kiểm tra hiện trường, công ty vẫn đang vi phạm do Giấy phép thi công đã hết hạn và hiện công ty T1 vẫn đang sử dụng đường đấu nối.

[2.2.] Biên bản vi phạm hành chính được thể hiện các nội dung cụ thể sau: Biên bản được lập vào hồi 08h30 ngày 13/7/2020 tại Km 1+ 865 đường Trục Đình Vũ, H, Hải Phòng; căn cứ hành vi vi phạm tại thời điểm kiểm tra; tại Biên bản có các chữ ký của ông Đỗ Khắc M (Thanh tra Sở giao thông), đại diện Công ty TNHH T1 có chữ ký ông Đoàn Văn T (Giám đốc). Công ty T1 không có giải trình gì đối với Biên bản vi phạm hành chính ngày 13/7/2020.

Ngày 18/7/2020, Thanh tra Sở G đã căn cứ vào Biên bản vi phạm hành chính và quy định của pháp luật để ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0009739/QĐ-XPVPHC xử phạt Công ty T1 về hành vi vi phạm “Mở đường nhánh đấu nối vào đường chính” với mức phạt 35.000.000 đồng. Ngày 17/9/2020, Công ty T1 đã nộp phạt tại Kho bạc Nhà nước A, Hải Phòng.

. Về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính

Theo Điều 6 Luật Xử lý Vi phạm hành chính quy định về Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính: “1...Đối với vi phạm hành chính đã kết thúc thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm. Đối với vi phạm hành chính đang được thực hiện thì thời hiệu được tính từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm;...”.

Tại Khoản 9 Điều 12 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt đối với tổ chức với mức phạt từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng khi thực hiện hành vi “Mở đường nhánh đấu nối trái phép vào đường chính.

Thẩm quyền của Chánh thanh tra sở được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 46 Luật Xử lý vi phạm Hành chính.

Đối chiếu với các quy định trên thì Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0009739/QĐ-XPVPHC ngày 18/7/2020 của Chánh Thanh tra Sở G là đúng thẩm quyền, đúng quy định của pháp luật.

Người khởi kiện cho rằng tại phiên tòa sơ thẩm, Người khởi kiện và Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Người khởi kiện không được đọc Biên bản phiên tòa, tuy nhiên trong Hồ sơ vụ án đã có Biên bản phiên tòa sơ thẩm thể hiện diễn biến, trình bày của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với diễn biến, trình bày của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm và tài liệu trong hồ sơ vụ án nên không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự, không ảnh hưởng đến bản chất vụ án và không ảnh hưởng đến quá trình xét xử phúc thẩm.

Từ những phân tích nêu trên, không có cơ sở chấp nhận quan điểm của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện đã nêu ra tại phiên tòa. Do đó không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện về việc: Đề nghị hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0009739/QĐ-XPVPHC ngày 18/7/2020 của Chánh tra Sở Giao thông Vận tải thành phố H và không chấp nhận yêu cầu trả lại số tiền 35.000.000 đồng mà Công ty T1 đã nộp phạt.

- Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm Công ty TNHH T1 cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh, đại diện viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị không chấp nhận đơn kháng cáo của Công ty TNHH T1 là có căn cứ.

Về án phí: Do kháng cáo của Công ty TNHH T1 không được chấp nhận phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; khoản 1 Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Xử:

1. Bác kháng cáo của Công ty TNHH T1. Giữ nguyên các quyết định tại Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2022/HC-ST ngày 06/01/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

2. Về án phí: Công ty TNHH T1 phải chịu án phí hành chính phúc thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp theo Biên lai số 000397 ngày 04/4/2022 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ