vanban.org

Bản án 322/2023/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 13/07/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/07/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

của UBTVQH quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn chị Nguyễn Thị Viên. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2022/DS-ST ngày 29/9/2022 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "N.T.N - N.T.V"
  • Tòa quyết gì? của UBTVQH quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 322/2023/DS-PT
Ngày: 13/7/2023
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Hà

Các Thẩm phán:

Ông Vũ Viết Văn

Ông Lê Thanh Bình

- Thư ký phiên tòa:

Bà Nguyễn Thùy Trang, Thư ký Tòa

án nhân dân Thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội: Bà Nguyễn Bách

Thiện Linh, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 13 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội

xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 155/2023/TLPT-DS ngày 25/4/2023 về việc "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2022/DS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa

án nhân dân huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 254/2023/QĐ-PT

ngày 6/6/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 274/QĐPT- HPT ngày 28/6/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Tiến Ngọc, sinh năm 1974.

Trú tại: Thôn Đông Lai, xã Quang Tiến, huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà

Nội.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Viên, sinh năm 1986.

Trú tại: Thôn Bắc Hạ, xã Quang Tiến, huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà

Nội.

Do có kháng cáo của chị Nguyễn Thị Viên là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:

* Theo đơn khởi kiện ngày10/8/2022 và các lời khai tiếp theo nguyên

đơn anh Nguyễn Tiến Ngọc trình bày:

Do anh và chị Nguyễn Thị Viên có làm cùng tại Trường THCS Quang

Tiến, Sóc Sơn, Hà Nội nên khi chị Viên hỏi vay tiền anh đã tin tưởng cho chị Viên vay tiền, số tiền cụ thể là:

Lần 1 ngày 24/8/2018 chị Viên vay của anh số tièn 60.000.000 đồng,

thời hạn vay 1 năm. Khi vay hai bên có viết giấy biên nhận.

Lần 2 ngày 30/01/2019 chị Viên vay của anh số tiền 80.000.000 đồng,

thời hạn vay 6 tháng, chị Viên có viết giấy biên nhận cho anh.

Làn 3 ngày 28/5/2019 chị Viên vay của anh số tiền 285.000.000 đồng,

thời hạn vay 01 năm, chị Viên có viế giấy vay tiền cho anh.

Cả ba lần vay hai bên không có thỏa thuận gì về lãi suất. Do đến hẹn chị

Viên không trả tiền, anh đã nhiều lần đòi nhưng chị Viên không trả nên anh đã khởi kiện chị Viên ra Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn yêu cầu chị Viên phải trả toàn bộ số tiền gốc cho anh là 425.000.000 đồng và tiền lãi theo lãi suất của Ngân hàng. Tuy nhiên do hiện nay chị Viên phải một mình nuôi con nhỏ, không có nhà cửa ổn định, điều kiện kinh tế có nhiều khó khăn nên anh chỉ đề nghị chị Viên phải trả anh số tiền 200.000.000 đồng, ngoài ra anh không có yêu cầu gì khác.

* Bị đơn là chị Nguyễn Thị Viên trình bày: Tại Bản tự khai và Biên bản

lấy lời khai ngày 07/9/2022 chị xác nhận 03 giấy vay tiền ngày 24/8/2018, 30/01/2019 và 28/5/2019 là do chị viết và ký tên. Tuy nhiên trên thực tế chị chỉ vay của anh Ngọc số tiền 200.000.000 đồng cụ thể chị không nhờ ngày vay chỉ nhớ là: Lần 1 chị vay của anh Ngọc 100.000.000 đồng, lần 2 vay của anh Ngọc 80.000.000 đồng, lần 3 vay của anh Ngọc 20.000.000 đồng. Cả ba lần đều không viết giầy tờ gì. Sau đó do chị không có tiền trả nên anh Ngọc đã yêu cầu chị viết giấy vay tiền, mỗi lần viết anh Ngọc đều cộng dồn cả tiền gốc và tiền lãi. Nay anh Ngọc yêu cầu chị trả số tiền 200.000.000 đồng chị đồng ý nhưng do điều kiện khó khăn nên chị đề nghị trả dần anh Ngọc, khi nào có thì chị trả.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2022/DS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa

án nhân dân huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội đã quyết định:

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tiến Ngọc đối với chị

Nguyễn Thị Viên.

2. Buộc chị Nguyễn Thị Viên phải trả cho anh Nguyễn Tiến Ngọc số

tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương

sự.

Không nhất trí với quyết định của Bản án sơ thẩm, bị đơn chị Nguyễn

Thị Viên có đơn kháng cáo đối với Bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đương sự không rút đơn khởi kiện, đơn kháng cáo, không thỏa thuận

được với nhau về việc giải quyết vụ án, không xuất trình chứng cứ mới.

Nguyên đơn – anh Nguyễn Tiến Ngọc trình bày: Đề nghị HĐXX giữ

nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh đối với chị Nguyễn Thị Viên về việc buộc chị Nguyễn Thị Viên phải trả cho anh số tiền nợ 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).

Bị đơn – chị Nguyễn Thị Viên trình bày: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu

cầu kháng cáo của chị về việc chị Viên chỉ còn phải trả anh Ngọc số tiền 140.000.000 đồng. Chị không đồng ý chịu án phí vì điều kiện hiện nay chị rất khó khăn, không có tiền để nộp.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội:

- Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy

định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ kiện, đại diện VKS nhân

dân Thành phố Hà Nội đề nghị HĐXX áp dụng Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2022/DS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ

vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị đơn chị Nguyễn Thị Viên nộp

trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo, về hình thức là hợp lệ.

Về nội dung:

* Về nợ gốc:

Xét đề nghị của anh Nguyễn Tiến Ngọc yêu cầu chị Nguyễn Thị Viên

phải trả số tiền nợ 200.000.000 đồng trong tổng số tiền chị Viên vay của anh là 425.000.000 đồng: Chị Viên không thừa nhận chị vay của anh Ngọc số tiền 425.000.000 đồng nhưng chị thừa nhận Giấy biên nhận ngày 24/8/2018, Giấy biên nhận ngày 30/01/2019, Giấy vay tiền ngày 28/5/2019 đều là do chị Viên viết, ký tên. Quá trình giải quyết vụ án chị Viên đồng ý trả cho anh Ngọc số tiền 200.000.000 đồng, tại phiên tòa chị Viên thay đổi ý kiến chỉ đồng ý trả cho anh Ngọc số tiền 140.000.000 đồng.

Mặc dù tại phiên tòa phúc thẩm, chị Viên thay đổi lời khai xác nhận chị

chỉ nợ anh Ngọc số tiền 140.000.000 đồng và đã nhiều lần trả lãi cho anh Ngọc nhưng chị không đưa ra chứng cứ, tài liệu gì chứng minh việc chị đã trả lãi cho anh Ngọc và chỉ vay anh Ngọc số tiền 140.000.000 đồng như chị đã khai. Các tài liệu anh Ngọc xuất trình đủ căn cứ chứng minh chị Viên nợ anh Ngọc số tiền 425.000.000 đồng. Tuy nhiên anh Ngọc chỉ yêu cầu chị Viên trả số tiền 200.000.000 đồng. Yêu cầu của anh Ngọc là tự nguyện và có căn cứ pháp luật nên cần được chấp nhận.

* Về tiền lãi:

Tại các giấy nhận nợ, hai bên không thỏa thuận về lãi suất. Anh Ngọc

không yêu cầu chị Viên phải trả lãi. Do đó ghi nhận sự tự nguyện của anh Ngọc không yêu cầu chị Viên phải chịu lãi theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phù

hợp với nhận định của HĐXX.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Nguyễn Thị Viên.

Về án phí:

Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp

nhận, bị đơn chị Viên phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, đối trừ vào số tiền dự phí đã nộp.

Án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị Viên phải nộp 10.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Nguyễn Tiến Ngọc được hoàn lại số tiền 10.500.000 đồng tiền tạm

ứng án phí theo Biên lai số 0005307 ngày 17/8/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội.

Vì các lẽ trên, áp dụng Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự giữ

nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2022/DS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Căn cứ Điều 148, Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào Điều 463, 464, 465 466, 467, 468 Bộ luật Dân sự năm

2015.

- Điều 26, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016

của UBTVQH quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn chị Nguyễn Thị Viên.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2022/DS-ST ngày 29/9/2022

của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tiến Ngọc đối với chị

Nguyễn Thị Viên.

2. Buộc chị Nguyễn Thị Viên phải trả cho anh Nguyễn Tiến Ngọc số

tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).

3. Về án phí:

Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn chị Viên phải chịu 300.000 đồng án

phí dân sự phúc thẩm, đối trừ vào số tiền dự phí đã nộp tại Biên lai số 0005421 ngày 13/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội.

Án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị Viên phải nộp 10.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Nguyễn Tiến Ngọc được hoàn lại số tiền 10.500.000 đồng tiền tạm

ứng án phí theo Biên lai số 0005307 ngày 17/8/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường

hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ