- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Anh T - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Trần Công H. Quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2018/HSST ngày 18-9-2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đối với Trần Công H có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 30-11-2018.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| Bản án số: 322/2018/HSPT Ngày: 30-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử
ẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông
ẩm phán:
Ông Lê Phước Thanh.
Ông Nguyễn Tấn Trường.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân cấ
Nẵng.
- Đại diện Viện kiể
ẵng tham gia phiên toà: Ông Lê Ra - Kiểm sát viên.
Ngày 30-11-2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
công khai
thụ lý số 339/2018/HSPT ngày 17-10-2018 đối vớ
Võ Anh T, bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai kết án về tội “Giết người”; Trần Công H và Nguyễn Thành Tr bị kết án về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bả
ẩm số 59/2018/HSST ngày 18-9-2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Bị cáo kháng cáo:
1. Võ Anh T (tên gọi khác: Ba Sục), sinh ngày 03-02-1992 tại Bình Định; địa chỉ cư trú: thôn Ph2, xã T4, huyện T3, tỉnh Bình Định; trình độ văn hóa: 10/12; nghề nghiệp: lái xe; con ông Võ Văn M1 và bà Võ Thị N1.
- Tiền sự: ngày 22-01-2015, bị Công an phường T7, thành phố Q1, tỉnh Bình Định xử phạt hành chính (1.500.000 đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
- Nhân thân:
+ Ngày 06-11-2009, Công an xã T4, huyện T3, tỉnh Bình Định xử phạt hành chính (350.000 đồng) về hành vi đánh nhau.
+ Ngày 18-11-2009, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T4, huyện T3, tỉnh Bình Định ra quyết định số 03/QĐ-UB về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã.
Bị cáo bị bắt ngày 28-7-2015, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam T20 - Công an tỉnh Gia Lai, có mặt.
2. Trần Công H (tên gọi khác: Mập), sinh ngày 12-10-1992 tại Bình Định; địa chỉ cư trú: thôn Ph2, xã T4, huyện T3, Bình Định; trình độ văn hóa: 10/12; nghề nghiệp: thợ hồ; con ông Trần Quang T8 và bà Nguyễn Thị T9.
Tiền án:
- Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 241/2011/HSPT ngày 25-10-2011, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định kết án 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 176/2011/HSST ngày 09-12-2011, Tòa án nhân dân thành phố Q1, tỉnh Bình Định kết án 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, tổng hợp với hình phạt 06 tháng tù của Bản án hình sự phúc thẩm số 241/2011/HSPT ngày 25-10-2011, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 năm 06 tháng tù (chấp hành xong hình phạt tù ngày 30-8-2013).
Bị cáo bị bắt ngày 25-6-2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam T20 - Công an tỉnh Gia Lai, có mặt.
3. Nguyễn Thành Tr, sinh năm 1994 tại Gia Lai; địa chỉ cư trú: tổ 1, phường A1, thị xã A2, tỉnh Gia Lai; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: công nhân; tôn giáo: Đạo Cao Đài; con ông Nguyễn Văn S1 và bà Nguyễn Thị T6; vợ là Dương Thị V1, sinh năm 1999; tiền án: không; tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại nơi cư trú, có mặt.
Bị cáo không kháng cáo:
Mai Quốc T2, sinh ngày 01-12-1996 tại Bình Định; địa chỉ cư trú: làng Groi, xã K, huyện M, tỉnh Gia Lai; trình độ văn hóa: 10/12; nghề nghiệp: phụ xe; con ông Mai Ngọc D1 và bà Trần Thị B1; vợ là Trần Thị Mỹ D2, sinh năm 1999 và có 01 con, sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam T20 - Công an tỉnh Gia Lai (không triệu tập).
Những người tham gia tố tụng có liên quan đến kháng cáo:
- Người bào chữa cho bị cáo Võ Anh T: Luật sư Hoàng Ngọc X1 - thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Gia Lai, có mặt.
- Người bị hại: anh Nguyễn Tú B (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của người bị hại: bà Nguyễn Thị Th1, sinh năm 1959; địa chỉ cư trú: khối 1A, xã Ph, huyện T3, tỉnh Bình Định (là mẹ của người bị hại), có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi hợp pháp của bà Th1: Luật sư Võ Thị T5 - thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bình Định, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Võ Văn M1; địa chỉ cư trú: thôn Ph2, xã T4, huyện T3, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
+ Bà Võ Thị N1; địa chỉ cư trú: thôn Ph2, xã T4, huyện T3, tỉnh Bình Định, có mặt.
+ Anh Nguyễn Tú Y; địa chỉ cư trú: làng Đ, xã K, huyện M, tỉnh Gia Lai, có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Nguyễn Tú Yên:
Luật sư Võ Thị T5- thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bình Định, có mặt.
- Người làm chứng:
+ Anh Trần Văn Th, sinh năm 1990, anh Bùi Xuân Q, sinh năm 1990, anh Bùi Tấn N, sinh năm 1990, anh Trần Trọng N, sinh năm 1992, chị Nguyễn Thị Ngọc Đ, sinh năm 1977; cùng địa chỉ cư trú: làng Đ, xã K, huyện M, tỉnh Gia Lai, đều vắng mặt.
+ Anh Cao Tiến L1, sinh năm 1991; địa chỉ cư trú: Trạm Y Tế xã K, huyện M, tỉnh Gia Lai, vắng mặt.
+ Anh Huỳnh Cẩm T1, sinh năm 1990 và anh Lê Đức T9, sinh năm 1993; cùng địa chỉ cư trú: thôn Ph2, xã T4, huyện T3, tỉnh Bình Định, đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 27-7-2015, tại quán của anh Trần Văn Th (làng Đ, xã K, huyện M, tỉnh Gia Lai) tổ chức ăn nhậu. Tham gia có Võ Anh T, Trần Công H, Lê Đức T9 và Huỳnh Cẩm T1 (đều trú tại xã T4, huyện T3, tỉnh Bình Định) cùng với Bùi Xuân Q, Bùi Tấn N, Trần Trọng N, Cao Tiến L1, Mai Quốc T2, Nguyễn Thành Tr, Nguyễn Tú B và anh Trần Văn Th (đều trú tại làng Đ, xã K, huyện M, tỉnh Gia Lai). Do đã uống nhiều bia, rượu nên giữa Võ Anh T và Mai Quốc T2 xảy ra cãi nhau, dẫn đến xô xát nhưng được mọi người can ngăn. Sau đó, Mai Quốc T2 cùng Nguyễn Tú B, Nguyễn Thành Tr bỏ về trước. Võ Anh T cùng những người còn lại đến nhà anh Bùi Xuân Q (cách nhà của anh Th khoảng 100 m) tiếp tục ăn khuya và uống rượu.
Khoảng 23 giờ cùng ngày, Mai Quốc T2 vẫn bực tức vì bị Võ Anh T đánh, nên cầm theo 03 con dao rồi điều khiển xe mô tô đến nhà Nguyễn Thành Tr rủ Tr và anh Nguyễn Tú B đi tìm T đánh trả thù, Tr và anh B đồng ý. Khi đi, T2 và Tr mỗi người cầm 01 con dao dài (loại dao băm mía), còn anh B cầm 01 con dao tự chế (lưỡi dao bằng kim loại màu sáng). T2 điều khiển xe mô tô chở Tr và anh B đến trước nhà anh Bùi Xuân Q, thì thấy Võ Anh T cùng một số người đang nhậu. T2 dừng xe, cầm dao đứng núp vào hàng rào nhà chị Nguyễn Thị Ngọc Đ, mục đích chờ T ra để đánh. Lúc này, thấy anh Trần Văn Th đi ra ngoài sân nghe điện thoại, T2 liền cầm dao chạy vào chém anh Th 2 - 3 nhát, nhưng bị trượt. Anh Th bỏ chạy vào nhà, kêu la “Tụi bay, nó chém tao”. Nghe anh Th kêu, Võ Anh T cùng mấy người đang ngồi nhậu chạy ra, thấy T2, Tr và anh B mỗi người cầm 01 con dao đứng giữa sân nhà anh Q. Ngay lập tức, T2 dùng dao chém T, nhưng T tránh được và chạy vào đường luồng nhà anh Q lấy 01 khúc gỗ (dài 67,5 cm), Trần Công H cũng lấy 01 ống tuýp sắt (dài 1,5 m) chạy ra đứng đôi co với nhóm của T2. Lúc này, anh Q và anh N đến can ngăn đẩy T2, Tr và anh B ra ngoài đường, thì Võ Anh T và Trần Công H cũng đi theo. Nghe Mai Quốc T2 điện thoại cho ai đó hỏi “Thằng Ba sục dưới anh là ai, có chơi được không”, thì T nói “Tao, T này, bọn bay chém đi” và dùng cây gỗ đánh 01 cái làm T2 bị rơi điện thoại. T2 cầm dao chém lại, nhưng bị T đánh rơi dao nên T2 bỏ chạy một đoạn (khoảng 04 - 05 mét) thì dừng lại. Võ Anh T cùng Trần Công H quay lại chỗ Nguyễn Thành Tr và anh Nguyễn Tú B đang đứng ngoài đường (phía nhà chị Đ). Lúc này, Tr và anh B cầm dao xông vào đánh T, thì bị Trần Công H dùng tuýp sắt đánh 02 - 03 cái, làm Tr rơi dao, nhưng ngay sau đó Tr giật được tuýp sắt đánh lại, nên H bỏ chạy. Sau đó, Tr kéo anh B đi ra chỗ để xe mô tô (hướng ra tỉnh lộ 666) để đi về. Cả hai đi được một đoạn, thì anh B cầm dao tự chế bất ngờ quay lại, còn Tr tiếp tục đi đến chỗ để xe mô tô. Anh B đi đến phần lề đường bên phải và đứng đối mặt với Võ Anh T (cách khoảng 01 m), T cho rằng anh B quay lại để chém mình, nên dùng khúc gỗ đánh 01 cái từ trên xuống, trúng vào vùng đầu anh B, làm anh B ngã xuống đường. Cùng lúc này, T được Trần Công H và Lê Đức T9 kéo vào trong nhà anh Q. Ngay sau đó, anh Bùi Tấn N, anh Bùi Xuân Q và Nguyễn Thành Tr phát hiện anh B bị thương nằm gục trên đường (cách vị trí bị đánh 29 m, hướng đi tỉnh lộ 666), nên đưa anh B đi cấp cứu. Đến ngày 31-7-2015, anh B chết tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 170/2015/PY-TT ngày 06-8-2015, Trung tâm Pháp y tỉnh Gia Lai kết luận: xây xát da vùng trán thái dương phải, tụ máu dưới da đầu vùng thái dương phải, vỡ lún xương sọ vào trong. Nguyên nhân anh Nguyễn Tú B chết do chấn thương sọ não, vỡ sọ, chảy máu nội sọ đã điều trị không hồi phục.
Quá trình điều tra, ông Võ Văn M1 và bà Võ Thị N1 (là cha, mẹ của T) đã bồi thường người đại diện hợp pháp của người bị hại là bà Nguyễn Thị Th1 (là mẹ anh Nguyễn Tú B) số tiền 120.000.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2018/HSST ngày 18-9-2018, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai:
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93 của Bộ luật Hình sự 1999; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Xử phạt: Võ Anh T 15 (mười lăm) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28-7-2015.
Áp dụng khoản 1 Điều 245 của Bộ luật Hình sự năm 1999, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Xử phạt: Trần Công H 12 (mười hai) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 25-6-2018.
Áp dụng khoản 1 Điều 245 của Bộ luật Hình sự năm 1999, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Xử phạt: Nguyễn Thành Tr 6 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định tội danh, hình phạt đối với Mai Quốc T2, quyết định trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí hình sự, án phí dân sự và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 21-9-2018, Võ Anh T kháng cáo xin giảm hình phạt.
- Ngày 25-9-2018, Trần Công H kháng cáo xin giảm hình phạt.
- Ngày 25-9-2018, Nguyễn Thành Tr kháng cáo xin chuyển hình phạt tù sang phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Trần Công H rút đơn kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ Điều 348, điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: không chấp nhận kháng cáo của Võ Anh T và Nguyễn Thành Tr; đình chỉ xét xử phúc thẩm với bị cáo Trần Công H.
Bị cáo Võ Anh T và Luật sư bào chữa cho bị cáo thống nhất về tội danh, điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng, nhưng cho rằng người bị hại cũng có phần lỗi khi cầm dao quay lại tìm nhóm của bị cáo để đánh nhau; đồng thời, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo Nguyễn Thành Tr cho rằng bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ hình sự và thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm cho bị cáo được hưởng án treo.
Người đại diện hợp pháp của người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tăng hình phạt đối với bị cáo Võ Anh T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Ngày 27-7-2018, tại nhà anh Trần Văn Th (làng Đ, xã K, huyện M, tỉnh Gia Lai), giữa Võ Anh T và Mai Quốc T2 xảy ra mâu thuẫn, nhưng được mọi người can ngăn, nên T2, Nguyễn Thành Tr và anh Nguyễn Tú B đi về. Đến 23 giờ cùng ngày, do vẫn bực tức T, nên T2 chuẩn bị 03 con dao rồi rủ Tr và anh B đi tìm T đánh trả thù. Khi đến nhà anh Bùi Xuân Q, T2 dùng dao chém anh Trần Văn Th (gây xây xát nhẹ). Nghe tiếng kêu của anh Th, T chạy ra thì bị T2 dùng dao chém, nhưng không trúng và bị T dùng 01 khúc gỗ đánh vào người, làm T2 bị rơi điện thoại và dao. T2 bỏ chạy, thì T quay ra chỗ Tr và anh B đang cầm dao đứng gần đó. Cùng lúc này, Trần Công H cầm đoạn tuýp sắt đánh nhau với Tr, làm Tr bị rơi dao và khi Tr giật được tuýp sắt, thì H bỏ chạy, nên Tr kéo anh B đi về, nhưng đi được một đoạn, thì anh B cầm dao quay lại chỗ T đang đứng. Cho rằng anh B quay lại chém mình, nên T dùng khúc gỗ đánh một cái từ trên xuống, trúng vào đầu anh B, làm anh B ngã xuống đất. Ngay sau đó, anh B được đưa đi cấp cứu, nhưng đến ngày 31-7-2015, thì bị chết.
Với hành vi phạm tội như đã nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm kết án Võ Anh T về tội “Giết người”; Mai Quốc T2, Trần Công H và Nguyễn Thành Tr, đều về tội “Gây rối trật tự công cộng” là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
- Đối với kháng cáo của Võ Anh T:
Khi được Mai Quốc T2 rủ tìm Võ Anh T để đánh trả thù, anh Nguyễn Tú B đồng ý và cầm theo một con dao rồi đi cùng T2 và Nguyễn Thành Tr. Tuy nhiên, khi đến nhà anh Bùi Xuân Q, anh B không tham gia, mà chỉ có T2 và Tr đánh nhau với T và Trần Công H. Sau khi bị đánh, T2 bỏ chạy, anh B quay lại, đứng đối diện với T, nhưng anh B chưa có hành động thể hiện sẽ tấn công T. Tuy nhiên, cho rằng anh B cầm dao đến chém mình, nên ngay lập tức T đã dùng gậy đập vào đầu anh B, làm cho anh B bị chết “Do chấn thương sọ não, vỡ sọ, chảy máu nội sọ”.
Như vậy, giữa Võ Anh T và anh Nguyễn Tú B không quen biết, không có mâu thuẫn với nhau, nhưng chỉ vì nghi ngờ anh B đánh mình, T đã sử dụng hung khí nguy hiểm (gậy gỗ sần sùi) đập vào đầu, làm cho anh B bị chết. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp tước đoạt tính mạng người khác, hành vi này không nhứng thể hiện tính chất côn đồ, coi thường pháp luật, mà còn gây nhiều dư luận xấu trong nhân dân và làm mất trật tự trị an địa phương. Tuy nhiên, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại, nên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 15 (mười lăm) năm tù. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được chứng cứ để chứng minh có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới; đồng thời, nhân thân của bị cáo rất xấu, đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi đánh nhau, có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản và với hành vi phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng như đã nêu trên, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian dài, có như vậy mới đủ tác dụng để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, cũng như ngăn chặn và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này. Vì vậy, mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là thỏa đáng, nên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
- Đối với kháng cáo của Nguyễn Thành Tr:
Khi được Mai Quốc T2 rủ đi đánh Võ Anh T để trả thù, bị cáo đã đồng ý. Khi hai nhóm gặp nhau, bị cáo và anh Nguyễn Tú B cầm dao xông vào định đánh T, thì bị Trần Công H dùng tuýp sắt đánh 02 - 03 cái, làm bị cáo bị rơi dao. Như vậy, mặc dù giữa bị cáo và T không có mâu thuẫn, nhưng xuất phát từ việc T2 rủ đi đánh nhau, bị cáo đã tham gia và dẫn đến hậu quả Võ Anh T đánh anh B chết.
Hành vi của bị cáo gây nhiều dư luận xấu trong nhân dân và làm mất trật tự trị an địa phương. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” là phù hợp. Tuy nhiên, quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đồng thời, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, nhưng sau khi phạm tội, đã tự nguyện hỗ trợ cho gia đình người bị hại 20.000.000 đồng để khắc phục một phần thiệt hại; ngoài ra, bị cáo tham gia trong vụ án với vai trò đồng phạm không đáng kể. Vì vậy, để thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ thay đổi biện pháp chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo.
- Đối với kháng cáo của Trần Công H:
Ngày 25-9-2018, Trần Công H kháng cáo xin giảm hình phạt, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo. Xét thấy, việc rút kháng cáo của bị cáo là tự nguyện; đồng thời, bị cáo không bị kháng cáo, không bị kháng nghị, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo.
. Về áp dụng pháp luật:
- Bị cáo Võ Anh T bị Tòa án cấp sơ thẩm kết án về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 93 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo Nguyễn Thành Tr bị Tòa án cấp sơ thẩm kết án về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 245 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Tại thời điểm xét xử phúc thẩm, thì Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, nhưng mức hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 93 của Bộ luật Hình sự năm 1999 bằng mức hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (về tội “Giết người”); mức hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 245 của Bộ luật Hình sự năm 1999 thấp hơn mức hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (về tội “Gây rối trật tự công cộng”). Vì vậy, để thực hiện nguyên tắc có lợi cho người phạm tội, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiếp tục áp dụng điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí:
- Do kháng cáo không được chấp nhận, nên Võ Anh T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
- Do kháng cáo được chấp nhận, nên Nguyễn Thành Tr không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Trần Công H. Quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2018/HSST ngày 18-9-2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đối với Trần Công H có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 30-11-2018.
2. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Anh T (tên gọi khác: Ba Sục).
- Chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Thành Tr.
- Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2018/HSST ngày 18-9-2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
3. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
- Xử phạt: Võ Anh T (tên gọi khác: Ba Sục) 15 (mười lăm) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28-7-2015.
Áp dụng khoản 1 Điều 245; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 1, 2, 4 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Xử phạt: Nguyễn Thành Tr 6 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, nhưng cho hưởng án treo.Thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao Nguyễn Thành Tr cho Ủy ban nhân dân phường A1, thị xã A2, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưỏng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú được áp dụng theo khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
4. Các quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Về án phí phúc thẩm:
Căn cứ điểm b, g và h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Võ Anh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Nguyễn Thành Tr và Trần Công H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - TANDTC - Vụ I; - VKSND tỉnh Gia Lai; - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai; - Trại tạm giam, Công an tỉnh Gia Lai (03 bản, để giao cho T, H mỗi bị cáo 01 bản); - Sở Tư pháp Gia Lai; - Cục THA dân sự tỉnh Gia Lai; - B/cáo Nguyễn Thành Tr (theo đ/chỉ nêu trên); - Người đại diện hợp pháp của người bị hại (theo địa chỉ nêu trên); - Lưu: h/sơ vụ án, các Phòng HCTP, LTHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Việt Cường |