vanban.org

Bản án 321/2020/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 24/11/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/11/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Dương Đình A 03 (ba) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp Hnh hình phạt tù tính từ ngày bắt thi Hnh án.

Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo không phải nộp. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Đình A - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Dương Đình A 03 (ba) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp Hnh hình phạt tù tính từ ngày bắt thi Hnh án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 321/2020/HSPT
Ngày: 24/11/2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH D HOÁ

-THnh phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Chinh;

Các thẩm phán:

Ông Phạm Văn Long;

Bà Lê Thị Dung.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh D Hoá tham gia phiên tòa - Bà Thiều Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2020, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh D Hoá xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 246/2020/HSPT ngày 08/10/2020, đối với bị cáo Dương Đình A, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 239/2020/HSST ngày 26/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố TH:

- Bị cáo kháng cáo: Dương Đình A, sinh ngày 02/9/2000 tại TH; trú tại Thôn 9, xã TD, tHnh phố TH, tỉnh TH; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Dương Đình G và bà: Dương Thị S; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Tháng 6/2019, Công an thành phố TH xử phạt Hnh chính về Hnh vi: “Xâm hại sức khỏe người khác”; tại ngoại; có mặt.

- Bị cáo không kháng cáo: Lương Thế B, 1977 (vắng mặt).

Trú tại: SN 69 Trần Khát Chân, phường Hàm Rồng, thành phố TH.

- Người bị hại không kháng cáo: Lê Văn C, Đoàn Văn D, Nguyễn Văn H (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khu vực cánh đồng thôn 3 và thôn 8, xã TD, thành phố TH là nơi có nhiều gia đình chăn thả gia súc. Sáng ngày 07/4/2020 anh Lê Văn C thả đàn dê gồm 05 con, anh Đoàn Văn D thả đàn dê gồm 05 con và anh Nguyễn Văn H thả đàn dê gồm 11 con. Cả ba gia đình đều thả dê ở cùng cánh đồng thôn 3, thôn 8 không cử người trông coi.

Khoảng 14h ngày 07/4/2020 Lương Thế B và Dương Đình A đến trước cổng Công ty may ABC thuộc thôn 8, xã Thiêu Dương, thành phố TH để chăn thả gia súc là đàn trâu. Lúc này B phát hiện thấy có 01 đàn dê khoảng 12 con, có cả đực và cái, có trọng lượng khác nhau đang ăn cỏ gần đàn trâu nH gia đình B và không có người trông coi. Lương Thế B nảy sinh ý định trộm cắp dê. B nói với A “về lấy xe tải, bác cháu mình bắt vài con về làm thịt”. A đồng ý và lấy chiếc xe ô tô BKS 36C-19003 đến, nhưng chưa lắp thùng xe. Nhằm tránh bị phát hiện B và A đã quay xe ô tô về nhà A lắp thùng xe, phủ bạt kín rồi quay trở lại cánh đồng. Lương Thế B lùi xe vào cổng khu nhà bỏ hoang nơi đàn dê đang ăn cỏ. B bảo A đứng cảnh giới, trông coi cho B. B lùa và bắt được 07 con dê lên thùng xe, sau đó buộc thùng phủ bạt kín xe rồi một mình B chở đàn dê về. B thả 05 con dê tại trường bắn Hm Rồng, còn hai con thì bị chết 01 con nên B làm thịt, một con do yếu nên B thả vào đàn dê của gia đình B.

Đến chiều ngày 07/4/2020 gia đình anh Lê Văn C, anh Nguyễn Văn H và anh Đoàn Văn D đến khu vực cánh đồng để đưa dê về thì phát hiện đã bị mất trộm. Gia đình anh C phát hiện bị mất trộm 02 con dê (01 con dê mẹ trọng lượng khoảng 35kg và 01 con dê trọng lượng khoảng 10kg); gia đình anh H bị mất 08 con (có trọng lượng từ 10kg đến 30kg); gia đình anh D bị mất 04 con (có trọng lượng từ 10kg đến 30kg).

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra phát hiện số dê mà Lương Đình B và Dương Đình A trộm cắp là của gia đình anh C, anh H và anh D. Cơ quan điều tra đã thu giữ 06 con dê đang còn sống trong đó xác định có 01 con dê của gia đình anh Lê Văn C (trọng lượng 9kg), 01 con dê của gia đình anh Đoàn Văn D (trọng lượng 10kg), 04 con dê của gia đình anh Nguyễn Văn H (trọng lượng từ 21kg đến 37kg). Đối với con dê bị chết, Lương Thế B đã làm thịt ăn nên không thu hồi được. B khai con dê có trọng lượng 15kg, có màu lông trắng, quá trình điều tra xác định đây là con dê của gia đình anh D.

Ngày 16/4/2020 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự định giá đã định giá 1kg dê trị giá 120.000 đồng. Tổng trọng lượng 07 con dê bằng 140kg trị giá là 16.800.000 đồng. Ngày 08/6/2020 cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho các bị hại, con dê đã bị chết bị cáo Lương Thế B đã bồi thường cho anh Đoàn Văn D. Anh Lê Văn C, Đoàn Văn D, Nguyễn Văn H không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm về phần dân sự.

Đối 07 con dê chưa tìm thấy, hiện chưa xác định được đối tượng trộm cắp, cơ quan tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ.

Đối với chiếc xe ô tô BKS 36C-19003 mà B dùng làm phương tiện chở tài sản trộm cắp, xác định là xe của chị Vũ Thị Lệ Thủy (vợ B). Khi B lấy xe đi, chị Thủy không biết B sử dụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 239/2020/HSST ngày 26/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố TH đã Quyết định:

Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Dương Đình A phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Dương Đình A 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm công nhận bị cáo đã thực hiện xong nghĩa vụ dân sự; án phí và giành quyền kháng cáo.

Ngày 27 tháng 8 năm 2020, bị cáo Dương Đình A nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: Xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Kiểm sát viên VKSND tỉnh TH tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Dương Đình A, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt, giảm cho bị cáo từ 2-3 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Dương Đình A nộp đơn kháng cáo trong thời hạn quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, do đó được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Xét nội dung kháng cáo của bị cáo xin giảm hình phạt thấy rằng:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Dương Đình A khai nhận: Chiều 17/4/2020, bị cáo cùng với Lương Thế B đến khu vực trước cổng Công ty may thuộc thôn 8, xã TD A để thả trâu, lúc này thấy đàn dê của các gia đình khác chăn thả ở đó không có người trông coi, nghe theo sự xúi dục của B, bị cáo đã về nH B lấy xe tải đến, sau đó B quay về lắp thùng xe tải và bị cáo đã đứng cảnh giới cho B lùa 07 con dê lên thùng xe, sau đó B phủ bạt chở đi, trong đó 01 con dê bị chết B đã làm thịt, còn lại 06 con B đem về thả 01 con vào đàn dê nhà B và thả 05 con ở Trường bắn Hàm Rồng, nhằm mục đích giết thịt. Tổng trị giá 07 con dê trọng lượng 140kg trị giá 16.800.000đ, bị cáo B đã trả lại và bồi thường đầy đủ cho các gia đình bị hại.

Do có hành vi nêu trên, bị cáo Dương Đình A đã bị truy tố, xét xử về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Trong vụ án này A là người bị B xúi dục nên đã giúp sức cho B bắt trộm 07 con dê của các gia đình bị hại và cũng chưa được ăn chia hưởng lợi gì cùng với B, A có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: Quá trình điều tra thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; được các gia đình bị hại xin giảm hình phạt; gia đình bị cáo có công với cách mạng, do đó Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo 06 tháng tù là phù hợp.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo ăn năn hối cải, tích cực tham gia các phong trào hoạt động ở địa phương, tham gia đóng góp ủng hộ đồng bào Miền Trung 2.000.000đ (được Trưởng thôn 9 và Chủ tịch MTTQ xã TD xác nhận). Đây là tình tình tiết mới được xem xét theo khoản 2 Điều 51 tại cấp phúc thẩm.

Nhận thấy bị cáo tuổi đời còn trẻ, suy nghĩ nông cạn nên đã phạm tội do bị xúi dục, bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, do đó Tòa án cấp phúc thẩm có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo, giảm cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như đề nghị của Kiểm sát viên, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo mau chóng trở về với gia đình và xã hội.

Xét nội dung kháng cáo xin hưởng án treo thấy rằng:

Trước khi phạm tội, tháng 6/2019 bị cáo đã bị Công an thành phố TH xử phạt hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác”. Bị cáo phạm tội trong thời gian chưa được xóa tiền sự, do đó không đủ điều kiện cho cải tạo ngoài xã hội, Tòa án cấp sơ thẩm buộc cách ly là đúng nên nội dung kháng cáo của bị cáo xin hưởng án treo không có cơ sở chấp nhận.

Về án phí: Đơn kháng cáo không được chấp nhận một phần, Tòa án cấp phúc thẩm sửa về hình phạt nên bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt: Dương Đình A 03 (ba) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp Hnh hình phạt tù tính từ ngày bắt thi Hnh án.

- Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo không phải nộp.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ