vanban.org

Bản án 320/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Trần Cẩm D. Cho bà Trần Cẩm D ly hôn ông Cao Bé B.

Về con chung: Tiếp tục giao con chung là cháu Cao Trần Bảo N sinh ngày 01/3/2021 cho ông Cao Bé B được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà Trần Cẩm D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trong trường hợp lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Cẩm D- Cao Bé B"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Trần Cẩm D. Cho bà Trần Cẩm D ly hôn ông Cao Bé B.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC A - CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 320/2026/HNGĐ-ST
Ngày 10 - 8 - 2026
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC A - CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Nhi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Nhạn

Bà Cao Thị Mỹ Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Loan - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân khu vực A - Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Dựa - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực A - Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 715/2026/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2026 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 293/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Cẩm D, sinh ngày 01/01/1984. Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Cao Bé B, sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 03 tháng 6 năm 2026 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Cẩm D trình bày:

- Về hôn nhân: Bà và ông Cao Bé B tự nguyện tiến đến hôn nhân với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (nay là Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Cà Mau) vào năm 2009. Trong cuộc sống chung vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn không hàn gắn được. Tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông B.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà và ông B có 01 con chung tên Cao Trần Bảo N sinh ngày 01/3/2021, hiện con chung đang sống cùng ông B. Khi ly hôn bà đồng ý giao con chung cho ông B được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.

- Về cấp dưỡng: Bà không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà và ông B không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn ông Cao Bé B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Cà Mau phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà D. Tiếp tục giao con chung cho ông B trực tiếp nuôi dưỡng. Ông B không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn bà Trần Cẩm D khởi kiện bị đơn ông Cao Bé B có địa chỉ tại ấp B, xã Đ, tỉnh Cà Mau nên căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực A - Cà Mau.

Do bà D, ông B có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên việc xét xử vắng mặt bà D, ông B là phù hợp với quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Bà Trần Cẩm D và ông Cao Bé B tự nguyện tiến đến hôn nhân với nhau và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (nay là Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Cà Mau) cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 09/4/2009 nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Bà D xác định trong cuộc sống chung vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn đến mức trầm trọng, không hàn gắn được. Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu ly hôn với ông B.

Tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Xét thấy: Mối quan hệ hôn nhân của bà D và ông B không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, tình nghĩa vợ chồng không còn. Ông B không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đã thể hiện ý chí không muốn hàn gắn tình cảm với bà D. Do đó, khả năng đoàn tụ của bà D và ông B là không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà D.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà D và ông B có 01 con chung tên Cao Trần Bảo N sinh ngày 01/3/2021 hiện đang sống cùng ông B. Khi ly hôn bà D đồng ý giao con chung cho ông B được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.

Hội đồng xét xử xét thấy: Cha mẹ đều có quyền nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Khi ly hôn nếu giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng thì phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Quá trình làm việc, bà D có nguyện vọng được giao cháu Ngọc cho ông B được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng vì ông B có điều kiện nuôi con hơn bà. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu N cho ông B được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Bà D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trong trường hợp lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về cấp dưỡng: Do ông B không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Xét ý kiến của Kiểm sát viên có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật nên được ghi nhận.

Về án phí: Bà D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Ông B không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228, Điều 238, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Trần Cẩm D. Cho bà Trần Cẩm D ly hôn ông Cao Bé B.

2. Về con chung: Tiếp tục giao con chung là cháu Cao Trần Bảo N sinh ngày 01/3/2021 cho ông Cao Bé B được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Bà Trần Cẩm D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trong trường hợp lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về cấp dưỡng: Ông Cao Bé B không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

5. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là: 300.000 đồng, bà Trần Cẩm D phải chịu. Bà Trần Cẩm D đã dự nộp tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008349 ngày 23 tháng 6 năm 2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau nên được chuyển thu toàn bộ.

Ông Cao Bé B không phải chịu án phí.

6. Án xử sơ thẩm, đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Nơi nhận:

Cỡ chữ