- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 119 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 320/2026/DS-ST Ngày: 26-02-2026 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Nguyễn Thanh Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lại Hữu Tâm.
2. Ông Đặng Văn Ẩn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 10
- Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Võ Kim Cường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 02 năm 2026 tại Toà án nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 918/2025/TLST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2026/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 01 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 320/2026/QĐST-DS ngày 30 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty T1 (Việt Nam)
Địa chỉ: I P, phường S, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lâm Thị Thùy D, sinh năm 2000; (Giấy uỷ quyền số 22/2025/GUQ-MAFC ngày 17/4/2025; Giấy uỷ quyền lập ngảy 17/4/2025) (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: P, tầng D, Tòa nhà số G T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh
Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Địa chỉ: B đường H, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) có người đại diện theo ủy quyền là bà Lâm Thị Thùy D trình bày:
Ngày 11/12/2023, Công ty T1 (VIỆT NAM) (sau đây gọi tắt là Công ty T1) ký Hợp đồng tín dụng số: 5121273 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho ông Nguyễn Tấn T với khoản vay trị giá 28.944.375 đồng (gồm 26.875.000 đồng giải ngân ngày 11/12/2023 qua số tài khoản 255303019 mở tại ngân hàng TMCP Á, và 2.069.375 đồng tiền bảo hiểm khoản vay).
-Mức lãi suất trong hạn là 58%/năm (một năm là 365 ngày);
-Lãi suất quá hạn = 150% x Lãi suất trong hạn% x Số tiền gốc chưa trả mỗi kỳ x Số ngày quá hạn : 365 ngày
-Lãi chậm trả = 10% x Số tiền lãi trong hạn chưa trả mỗi kỳ x Số ngày quá hạn: 365 ngày
Sau khi ký kết, Công ty T1 đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho bị đơn. Theo Hợp đồng tín dụng, bị đơn có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng trong kỳ hạn 24 tháng kể từ ngày 01/01/2024 đến ngày 01/12/2025.
Sau khi được giải ngân bị đơn đã thanh toán 12.575.717 đồng (Trong đó: Gốc đã trả 3.937.130 đồng; L đã trả 8.557.190 đồng; lãi chậm trả đã trả: 9.397; Phí thu hộ đã trả: 72.000 đồng). Tuy nhiên, từ ngày 06/06/2024 bị đơn đã không thanh toán đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T1 đã giải ngân. Do đó, kể từ ngày 01/07/2024 (kỳ thanh toán thứ 7) công ty bắt đầu tính nợ quá hạn đối với từng kỳ thanh toán mà bị đơn vi phạm.
Công ty T1 đã tiến hành liên hệ qua điện thoại đề nghị Bị đơn thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo hợp đồng. Đồng thời, Công ty T1 cũng đã gửi thư đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán, để thông báo trực tiếp cho bị đơn biết về việc hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Tuy nhiên, bị đơn vẫn không có bất kỳ hành động thực tế nào thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho phía Công ty T1 (Việt Nam).
Do đó, Công ty T1 (Việt Nam) yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bị đơn thanh toán cho Công ty T2 số tiền tạm tính đến ngày 26/02/2026 là 56.787.445 đồng. Trong đó:
- Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 25.007.245 đồng.
- Số tiền lãi trong hạn chưa thanh toán: 12.003.887 đồng.
- Số tiền lãi quá hạn chưa thanh toán: 18.322.931 đồng.
- Số tiền lãi chậm trả chưa thanh toán: 1.453.382 đồng.
Ngoài ra Công ty còn yêu cầu cá nhân bị đơn phải thanh toán lãi phát sinh kể từ ngày 27/02/2026 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản vay theo hợp đồng đã ký.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập đương sự cho bị đơn ông Nguyễn Tấn T tham gia tố tụng theo quy định nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do, không thể hiện ý kiến của mình bằng bất cứ văn bản nào nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của ông T.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn – bà Lâm Thị Thùy D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn ông Nguyễn Tấn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.
Kiểm sát viên phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo theo quy định tại Khoản 1 Điều 196; khoản 1 Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại Điều 70; Điều 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70; Điều 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 (Việt Nam). Về án phí: Ông Nguyễn Tấn T phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Công ty T1 (Việt Nam) khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn ông Nguyễn Tấn T có nơi cư trú tại phường C, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Về sự vắng mặt của đương sự: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Tấn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về áp dụng pháp luật: Do hợp đồng dân sự giữa các bên đương sự ký kết vào thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực nên Tòa án áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giải quyết vụ án.
Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc:
Căn cứ vào Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng tiêu dùng số 5121273 ngày 11/12/2023 giữa Công ty T1 (Việt Nam) và ông Nguyễn Tấn T có chữ ký xác nhận của bị đơn ông Nguyễn Tấn T và đại diện Công ty T1 (Việt Nam);
Căn cứ vào Phiếu báo nợ được in từ Ngân hàng điện tử của T3 thể hiện ngày 11/12/2023 Công ty T1 (Việt Nam) có chuyển vào số tài khoản của ông Nguyễn Tấn T được lập tại Ngân hàng TMCP Á số tiền 26.875.000 đồng (hai mươi sáu triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng);
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định ngày 11/12/2023 Công ty T1 (Việt Nam) có cho ông Nguyễn Tấn T vay số tiền 28.944.375 đồng (gồm 26.875.000 đồng giải ngân ngày 11/12/2023 qua số tài khoản 255303019 mở tại ngân hàng TMCP Á, và 2.069.375 đồng tiền bảo hiểm khoản vay).
Xét tính hợp pháp của sự thỏa thuận cho vay giữa các bên, Hội đồng xét xử xét thấy: Về nội dung và hình thức của Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng tiêu dùng số 5121273 ngày 11/12/2023 giữa nguyên đơn và bị đơn đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 117, 119 của Bộ luật Dân sự năm 2015, người tham gia hợp đồng có năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với các quy định pháp luật nên có hiệu lực, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên và các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng.
Căn cứ Khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn...” Căn cứ Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận. 2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc...”.
Căn cứ khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng”.
Xét bị đơn ông Nguyễn Tấn T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, mặc dù đã được nguyên đơn thông báo nhắc nợ nhiều lần nhưng phía bị đơn vẫn không có thiện chí thanh toán đầy đủ nợ cho nguyên đơn là đã vi phạm các điều khoản thỏa thuận đã ký kết trong Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng tiêu dùng. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc là có cơ sở chấp nhận.
Về yêu cầu bị đơn thanh toán các khoản nợ lãi:
Căn cứ vào Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng tiêu dùng số 5121273 ngày 11/12/2023 được ký kết giữa các bên, nhận thấy sự thỏa thuận về mức lãi suất vay của các bên là phù hợp với quy định của pháp luật, không trái với Điều 11 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà không cần phải điều chỉnh.
Căn cứ Báo cáo lịch sử thanh toán hợp đồng tín dụng ngày 26/02/2026 và bản tự khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ngày 26/02/2026 thì trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Tấn T đã thanh toán cho Công ty T1 (Việt Nam) tổng số tiền là: 12.575.171 đồng (trong đó: Gốc đã trả: 3.937.130 đồng; lãi đã trả: 8.557.190 đồng; lãi chậm trả đã trả: 9.397 đồng; phí thu hộ đã trả: 72.000 đồng).
Kể từ ngày 06/6/2024 cho đến nay bị đơn đã không thanh toán/thanh toán không đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đã ký kết. Do ông Nguyễn Tấn T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn đã chuyển toàn bộ khoản nợ của bị đơn sang nợ quá hạn và yêu cầu ông Nguyễn Tấn T thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ và tiền lãi theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng đã ký là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại mục 8 Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng đã ký kết vào ngày 11/12/2023.
Căn cứ quy định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“... 2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc...”.
Căn cứ Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.
Do bị đơn ông Nguyễn Tấn T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán các khoản lãi là có cơ sở theo quy định Điều 8.3 Hợp đồng tín dụng, Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Khoản 4 Điều 13, Khoản 5 Điều 14 Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
Căn cứ kết quả xác minh ngày 25/11/2025 của Công an phường C, Thành phố Hồ Chí Minh về việc xác minh tình trạng cư trú của bị đơn thì ông Nguyễn Tấn T có đăng ký, thực tế đang cư ngụ và sinh sống cùng với gia đình là mẹ ruột và anh chị em tại nhà số B H, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Tấn T đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án, trong đó nêu rõ yêu cầu của Công ty T1 (Việt Nam) về việc yêu cầu ông Nguyễn Tấn T trả toàn bộ số tiền còn nợ của Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 5121273 ngày 11/12/2023 nhưng bị đơn vẫn không có mặt cũng như không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ gì để giải quyết vụ án.
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 91, Khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh và bị đơn phải chịu hậu quả về việc không phản đối và không chứng minh của mình.
Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Theo Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán thì: Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, bị đơn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 27/02/2026 theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng đã giao kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ là phù hợp với quy định của pháp luật.
Từ những nhận định và phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Nguyễn Tấn T có trách nhiệm thanh toán số tiền còn nợ phát sinh theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng tiêu dùng số 5121273 ngày 11/12/2023 cho Công ty T1 (Việt Nam) tổng cộng số tiền tạm tính kể từ ngày 01/7/2024 (ngày chuyển nợ quá hạn) đến ngày 26/02/2026 là: 56.787.445 đồng. Trong đó: Số tiền nợ gốc: 25.007.245 đồng; số tiền lãi trong hạn: 12.003.887 đồng; số tiền lãi quá hạn: 18.322.931 đồng; số tiền lãi chậm trả: 1.453.382 đồng và ông T còn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 27/02/2026 theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng đã giao kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Công ty T1 (Việt Nam) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên trả lại cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Khoản 2 Điều 91, Khoản 2 Điều 92, Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 117, 119, Điều 280, Khoản 1 Điều 466, Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015
Căn cứ Khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa
đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ Khoản 4 Điều 13, Khoản 5 Điều 14 Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
Buộc ông Nguyễn Tấn T có trách nhiệm thanh toán cho Công ty T1 (Việt Nam) tổng cộng số tiền là: 56.787.445 đồng (năm mươi sáu triệu bảy trăm tám mươi bảy nghìn bốn trăm bốn mươi lăm đồng). Trong đó: Số tiền nợ gốc là: 25.007.245 đồng; số tiền lãi trong hạn: 12.003.887 đồng; số tiền lãi quá hạn: 18.322.931 đồng; số tiền lãi chậm trả: 1.453.382 đồng,
Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Các bên thi hành án tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Nguyễn Tấn T còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ trên.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Tấn T phải chịu 2.839.372 đồng (hai triệu tám trăm ba mươi chín nghìn ba trăm bảy mươi hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn lại cho nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) số tiền 759.109 đồng (bảy trăm năm mươi chín nghìn một trăm lẻ chín đồng) đã nộp theo theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0023602 ngày 07/10/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM (01); - VKSND TP.HCM (01); - VKSND KV10 - TP. HCM (01); - THADS TP.HCM (01); - Các đương sự (04); - Lưu hồ sơ (04). HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Châu Nguyễn Thanh Thảo Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Châu Nguyễn Thanh Thảo |