- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 320/2023/HNGĐ-ST Ngày: 25/5/2023 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Luyến
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Mai Trọng Thắng;
2. Bà Lâm Thu Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Vũ Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2023 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 495/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2022 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 77/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thái H, sinh năm 1985; Địa chỉ: Số 255/B3 Lầu H đường H, Phường M, Quận N, Thành phố H. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Trần Hoài D, sinh năm 1978; Địa chỉ: Số 1041/62/82 đường T, phường H, Quận B, Thành phố H. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 27/7/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị Thái H trình bày:
Bà và ông Trần Hoài D qua thời gian tìm hiểu được một thời gian thì cả hai tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận B, Thành phố H (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 105, đăng ký ngày 30 tháng 7 năm 2007).
Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 07 (Bảy) năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông D thiếu trách nhiệm với gia đình, không quan tâm chăm lo cho vợ con, hay rượu chè không lo làm ăn nên kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn. Bà đã nhiều lần khuyên nhưng ông D vẫn không thay đổi. Vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung và không còn tình cảm với nhau nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Bà H xác định cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được và không có khả năng đoàn tụ với ông Trần Hoài D nên yêu cầu được ly hôn với ông Trần Hoài D.
- Về con chung: Bà H và ông Trần Hoài D có 01 (Một) con chung họ tên là Trần Hoài Minh T (Giới tính: Nữ), sinh ngày 18/9/2007. Sau khi ly hôn bà H đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không đề nghị ông D cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà H xác nhận không có.
Tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị Thái H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Về phía bị đơn, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 7 đã nhiều lần triệu tập bị đơn đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ kiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến phản hồi mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Do đó, Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai cũng như hòa giải theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa ông Trần Hoài D vắng mặt không có lý do, không có ý kiến phản hồi mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý; Về xác định tư cách tham gia tố tụng; Xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý; Về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Bị đơn không chấp hành theo quy định của pháp luật chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
* Về nội dung:
- Bà H và ông D kết hôn vào năm 2007 tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận B, Thành phố H là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Do hai bên mâu thuẫn cả hai không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ với nhau về mọi mặt trong cuộc sống. Đồng thời do ông D thiếu trách nhiệm với gia đình và vợ con. Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, các bên đã sống ly thân không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc nhau nên mục đích hôn nhân không đạt được. Ông D vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ thể hiện sự bỏ mặc cuộc hôn nhân, không muốn níu kéo. Vì vậy, yêu cầu của bà H được ly hôn với ông D là có cơ sở đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về con chung: Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung. Nhận thấy, hiện tại trẻ Trần Hoài Minh T đang sống với bà H, bà là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và trẻ Trần Hoài Minh T cũng có nguyện vọng muốn sống với mẹ nên yêu cầu được nuôi con chung của bà H, là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn bà Trần Thị Thái H yêu cầu khởi kiện ly hôn với bị đơn ông Trần Hoài D và ông D đang cư trú tại Quận 7; Đây là tranh chấp về ly hôn là loại tranh chấp được quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định tại Khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về phía bị đơn, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 7 đã nhiều lần triệu tập bị đơn đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ kiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến phản hồi mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Do đó, Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai cũng như hòa giải theo quy định pháp luật và thuộc trường hợp đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông D theo Điểm b Khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì ông Trần Hoài D đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa tham gia tố tụng nên ông D phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án giải quyết vụ việc theo những chứng cứ có trong hồ sơ.
Nguyên đơn là bà Trần Thị Thái H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về yêu cầu của các đương sự:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thái H và ông Trần Hoài D tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2007 và có đăng ký kết hôn vào năm 2007. Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 105, đăng ký ngày 30/7/2007 tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận B, Thành phố H có đủ cơ sở để xác định bà H và ông D là vợ chồng hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.
Về yêu cầu được ly hôn với ông Trần Hoài D của bà Trần Thị Thái H, Hội đồng xét xử xét thấy:
Trong quá trình thụ lý, giải quyết Tòa án đã thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Trần Hoài D không nộp bản tự khai, không đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tham gia hòa giải, không có các biện pháp cụ thể để hàn gắn tình cảm vợ chồng thể hiện sự thiếu quan tâm đến việc xây dựng gia đình, bỏ mặc quan hệ hôn nhân với bà H. Mặt khác, với những mâu thuẫn do bà H trình bày thì quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông D không đạt được, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông D cũng chỉ là sự ràng buộc về mặt pháp lý sẽ không mang lại hạnh phúc cho nhau. Nên việc bà H yêu cầu ly hôn với ông D là có căn cứ chấp nhận phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 51 và Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
Về con chung: Bà Trần Thị Thái H và ông Trần Hoài D có 01 (Một) con chung họ tên là Trần Hoài Minh T (Giới tính: Nữ), sinh ngày 18/9/2007.
Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện con chung đang sống với bà H, bà H là người chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ từ nhỏ. Bà H có công việc ổn định đảm bảo cho việc nuôi dưỡng con chung và trẻ Trần Hoài Minh T cũng có nguyện vọng muốn sống với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử giao trẻ Trần Hoài Minh T cho bà Trần Thị Thái H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con hàng tháng: Bà Trần Thị Thái H tự nguyện không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung: Bà Trần Thị Thái H xác nhận tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về nợ chung: Bà Trần Thị Thái H xác nhận không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Bà Trần Thị Thái H phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Luật phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Quyền kháng cáo: Bà Trần Thị Thái H và ông Trần Hoài D có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 5; Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 1, Khoản 2 Điều 228; Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử:
1. Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
2. Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
2.1. Về hôn nhân: Cho bà Trần Thị Thái H ly hôn với ông Trần Hoài D (Giấy chứng nhận kết hôn số 105, đăng ký ngày 30/7/2007 tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận B, Thành phố H).
2.2. Về con chung: Bà Trần Thị Thái H và ông Trần Hoài D có 01 (Một) con chung họ tên là Trần Hoài Minh T (Giới tính: Nữ), sinh ngày 18/9/2007. Giao con chung là trẻ Trần Hoài Minh T cho bà Trần Thị Thái H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Thái H về việc không yêu cầu ông Trần Hoài D cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Trần Hoài D có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, vì quyền lợi của con, khi có yêu cầu của một hoặc hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
2.3. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2.4. Về nợ chung: Không có.
2.5. Án phí sơ thẩm: Bà Trần Thị Thái H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình về tranh chấp ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2021/0014761 ngày 04/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, bà H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
3. Quyền yêu cầu thi hành án, thời hiệu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án:
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
4. Án xử công khai, tuyên án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Quận7; - Chi cục THA DS Quận 7; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Đương sự; - Lưu, hồ sơ (Dung). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Luyến |