vanban.org

Bản án 320/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lý Hồng M.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lý Hồng M và anh Nguyễn Minh L. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thuý Vi, sinh ngày 28/11/2007 và cháu Nguyễn Băng Ngọc, sinh ngày 28/8/2014 cho chị Lý Hồng M trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lý Hồng M - Nguyễn Minh L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lý Hồng M.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 320/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 18 - 9 - 2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Trường Hận

Bà Lưu Xông Pha

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thêu là Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 18 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 486/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 321/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lý Hồng M, sinh năm 1987 (Xin vắng mặt);

Bị đơn: Anh Nguyễn Minh L, sinh năm 1982 (Vắng mặt);

Cùng cư trú: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/7/2023, đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 15/9/2023, nguyên đơn chị Lý Hồng M trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Lý Hồng M và anh Nguyễn Minh L chung sống với nhau vào năm 2007, đến ngày 21/01/2015 thì đăng ký kết hôn tại UBND xã Khánh Bình, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống rất hạnh phúc. Thời gian gần đây vợ chồng thường xuyên cự cãi do bất đồng quan điểm sống, làm cho đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân từ cuối tháng 6/2023 đến nay, không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ hôn nhân mặc dù đã được hai bên gia đình hàn gắn nhiều lần. Do không còn tình cảm với anh L nên chị M yêu cầu được ly hôn với anh L.

- Về con chung: Vợ chồng có hai người con chung tên Nguyễn Thuý Vi, sinh ngày 28/11/2007 và Nguyễn Băng Ngọc, sinh ngày 28/8/2014, hiện nay do vợ chồng cùng nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con, vợ chồng tự nguyện cấp dưỡng cho các con theo khả năng kinh tế của mình, không yêu cầu Toà án giải quyết vấn đề cấp dưỡng cho con.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Minh L: Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh L để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham dự phiên tòa nhưng anh L không có mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh L về các nội dung khởi kiện của nguyên đơn chị M.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Minh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà không có mặt tại phiên tòa. Do đó căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh L.

Về hôn nhân: Chị Lý Hồng M và anh Nguyễn Minh L xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh L là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Chị M xác định, do tình tình không hòa hợp nên trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên cự cãi, cuộc sống hôn nhân của vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2023 đến nay, không có khả năng hàn gắn mối quan hệ hôn nhân. Chị M không còn tình cảm với anh L nên xin ly hôn.

Về phía anh L, tuy đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham dự phiên tòa nhưng anh L không có mặt, điều này cho thấy anh L không có thiện chí hàn gắn và cũng không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân với chị M.

Do chị M xác định hiện nay không còn tình cảm với anh L; chị M và anh L đã sống ly thân, không thực hiện được nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và sống chung với nhau nên xác định chị M và anh L đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị M, cho chị M và anh L ly hôn là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Vợ chồng có hai người con chung tên Nguyễn Thuý Vi, sinh ngày 28/11/2007 và Nguyễn Băng Ngọc, sinh ngày 28/8/2014, do vợ chồng cùng nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con.

Xét thấy, anh L trực tiếp nhận các văn bản tố tụng của Toà án, biết yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con của chị M nhưng anh L không có ý kiến gì, điều này đồng nghĩa với việc anh L đồng ý với yêu cầu khởi kiện này của chị M; hơn nữa, cháu Vi và cháu Ngọc cũng có nguyện vọng được sống với mẹ là chị M. Căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của cháu Vi và cháu Ngọc, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị M, giao cháu Vi và cháu Ngọc cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị M xác định vợ chồng tự nguyện cấp dưỡng cho các con theo khả năng kinh tế của mình, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Chị M xác định vợ chồng tự thoả thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do không ghi nhận được ý kiến của anh L về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Nếu sau này đương sự có yêu cầu giải quyết thì sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác.

Về nợ chung: Chị M xác định vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do không ghi nhận được ý kiến của anh L về nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Nếu sau này đương sự có yêu cầu giải quyết thì sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Nguyên đơn chị M phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lý Hồng M.

- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lý Hồng M và anh Nguyễn Minh L.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thuý Vi, sinh ngày 28/11/2007 và cháu Nguyễn Băng Ngọc, sinh ngày 28/8/2014 cho chị Lý Hồng M trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh Nguyễn Minh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con mà không ai được cản trở. Anh L có nghĩa vụ tôn trọng quyền của các con được sống chung với chị M.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.

- Về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí: Chị Lý Hồng M phải chịu án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Ngày 12/7/2023 chị M đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007070 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, được đối trừ chuyển thu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Lý Hồng M có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Nguyễn Minh L có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ