vanban.org

Bản án 320/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ - TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 320/2020/HNGĐ-ST

Ngày: 18/08/2020

HUYỆN AN PHÚ Độc lập –Tự do – Hạnh phúc V/v tranh chấp “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ - TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Phong Phi Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Phu Bà Nguyễn Thị Tuyết Ái - Thư ký phiên toà: Bà Trần Đỗ Ngọc Mai Thy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy- Kiểm sát viên. Trong ngày 18 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú. Tòa án nhân dân huyện An Phú mở xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 203/2020/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2020 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 351/2020/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Ông Phạm Văn S, sinh năm: 1992. - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm: 1993. Cùng cư trú: tổ 92, ấp An Thạnh, thị trấn An Phú, huyện An Phú, An Giang. (Ông S có mặt; bà T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ông Phạm Văn S nộp đơn xin ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh T với nội dung như sau: Hôn nhân giữa ông, bà được hình thành là do tự T hiểu yêu thương nhau trước rồi được cha mẹ hai bên đứng ra tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn An Phú, huyện An Phú, An Giang. Cuộc

sống chung tương đối hạnh phúc và phát sinh mâu thuẫn trầm cách nay hai năm. Nguyên nhân là do hai người bất đồng quan điểm, sống không hợp nhau, nên vợ chồng thường gây cãi nhau, nên làm mất hạnh phúc vợ chồng. Hai người ly thân nhau từ đó. Nay ông xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông xin ly hôn với bà T. Trong quá trình chung sống hai người có hai con chung: Phạm Văn Nhựt Khánh, sinh ngày 09/10/2011; Phạm Văn Quốc Khánh, sinh ngày 27/8/2014; hiện cháu Nhựt Khánh đang sống với ông S, cháu Quốc Khánh đang sống với bà T. Khi ly hôn ông yêu cầu nuôi cháu Nhựt Khánh, đồng ý giao cháu Quốc Khánh cho bà T nuôi. Về quan hệ tài sản chung: Không có; Nợ chung: Không có, cũng không ai nợ lại ông bà. Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác. Tại phiên tòa, ông S bảo lưu ý kiến của mình. Riêng bà T đã được triệu tập hợp lệ lần hai để nghe xét xử nhưng vẫn vắng mặt phiên tòa hôm nay nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà theo thủ tục chung. Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử vắng mặt, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng…là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo. Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho thấy có mâu thuẫn vơ chồng và không thể hàn gắn được do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[ 1] Về thủ tục tố tụng: Hôn nhân giữa ông S và bà T là do tự T hiểu nhau, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn An Phú, huyện An Phú, tỉnh An Giang là hôn nhân hợp pháp; các đương sự đều cư trú trên địa bàn huyện An Phú, nên yêu cầu xin ly hôn của ông S được tòa án thụ lý, giải quyết là đúng quy định tại Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. [2] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa hai người hình thành là do tự T hiểu nhau thương nhau trước, được cha mẹ hai bên đứng ra tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng thời

gian sau phát sinh mâu thuẫn và ly thân nhau. Nay ông S xin ly hôn do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Chứng cứ mà Tòa án thu thập được: Tại biên bản ghi nhận lời khai ngày 19/6/2020 được bà Lê Thị Phượng là mẹ ruột của ông S cho biết về tình trạng hôn nhân giữa ông S và bà T hình thành do tự T hiểu yêu nhau, được cha mẹ đứng ra tổ chức đám cưới vào năm 2010, có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới thì sống tại gia đình bà. Cách đây hai năm vợ chồng S và T đi làm ở Bình Dương, khi về thì vợ chồng không còn hạnh phúc như trước, vì S phát hiện T có liên lạc trao đổi điện thoại với người lạ rồi phát sinh gây cãi nhau, sau đó T bỏ nhà đi luôn đến nay. Hiện T vẫn còn đăng ký hộ khẩu tại Ấp An Thạnh, thị trấn An Phú cúng với gia đình bà và chưa chuyển đi nơi khác. Theo bà là không thể hàn gắn lại được vì mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng, phía gia đình mẹ ruột của T cũng không muốn cho S và T trở về chung sống tiếp nửa. Tại biên bản xác minh ngày 02/7/2020 tại Công an thị trấn An Phú, ông Nguyễn Văn Huỳnh An – là công an viên cung cấp thông tin như sau: Hiện bà Nguyễn Thị Thanh T vẫn còn hộ khẩu thường trú tại Ấp An Thạnh, thị trấn An Phú và chưa chuyển đi nơi khác. Xét nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn ngay từ ban đầu là bất đồng nhau trong cách sống, lẽ ra hai bên tự T cách hóa giải để tạo điều kiện cho cuộc sống hạnh phúc. Hiện tại bà Tao xác định là không còn tình cảm với ông Hùm nửa và mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng không có tiếng nói chung không thể tiếp tục chung sống. Ngược lại cả hai cùng bỏ mặc nhau, không quan tâm, địa phương biết, gia đình biết cả hai không còn yêu thương nhau. Trong thời gian ly thân cả hai đều không quan tâm nhau để hàn gắn, căn cứ khoản 1 Điều 56 luật hôn nhân gia đình, thì ông bà đã vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 luật hôn nhân và gia đình 2014 “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”, do đó Tòa án nhận thấy cả hai vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó Tòa án giải quyết cho ly hôn là có căn cứ. [3] Về quan hệ con chung: Ông S khai có hai con chung là cháu Phạm Văn Nhựt Khánh , sinh ngày 09/10/2011; Phạm Văn Quốc Khánh, sinh ngày 27/8/2014; hiện cháu Nhựt Khánh đang sống với ông S, cháu Quốc Khánh đang sống với bà T. Khi ly hôn ông S yêu cầu nuôi cháu Nhựt Khánh và sẽ đổng ý giao cháu Quốc Khánh cho bà T nuôi . Nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận này của ông S; giao cháu Nhựt Khánh cho ông S tiếp tục nuôi và giao cháu Quốc Khánh cho bà T tiếp tục nuôi, để nhằm đảm bảo cho sự phát triển tốt và không bị xáo trộn tâm sinh lý của hai cháu sau này.

Theo quy định của pháp luật, bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho bên nuôi. Qua trình bày ông S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện này. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng giải thích cho ông S biết: Hai bên cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Theo quy định của pháp luật bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, tuy nhiên bà T vắng mặt nên không đề cập xem xét giải quyết. Sau này bà T có yêu cầu thì Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác. [4] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Ông S khai không có. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay bà T vắng mặt, sau này bà T có yêu cầu tranh chấp thì Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác. [5] Về án phí: Do yêu cầu của ông S được chấp nhận nên ông phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Bà T không phải chịu án phí sơ thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn S. Về hôn nhân: Ông Phạm Văn S được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh T. Giấy chứng nhận kết hôn số 28, ngày 20/3/2012 của Ủy ban nhân dân thị trấn An Phú, huyện An Phú, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật. Về con chung: Giao cháu Phạm Văn Nhựt Khánh, sinh ngày 09/10/2011 cho ông S nuôi; giao cháu Phạm Văn Quốc Khánh, sinh ngày 27/8/2014 cho bà T nuôi. Ông S và bà T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở nhau qua lại trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Bên không trực tiếp nuôi con, không được lợi dùng quyền thăm con hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nôm, chăm sóc, nuôi

dưỡng, giáo dục con mà gây ảnh hưởng đến việc nuôi dạy con của bên trực tiếp nuôi con Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định. Về án phí: Ông S phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001092 ngày 26/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú (ông S đã nộp đủ). Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18/8/2020) các đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thanh T được tính từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ