vanban.org

Bản án 32

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyªn bè BÞ c¸o Hoàng Văn C ph¹m téi “Cố ý gây thương tích”.

¸p dông kho¶n 3 §iÒu 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 33 BLHS. Xử phạt Hoàng Văn C 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo ra đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam 07/12/2016. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Hoàng Văn C cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm…"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyªn bè BÞ c¸o Hoàng Văn C ph¹m téi “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
Toµ ¸n nh©n d©n
HuyÖn L¹ng Giang
tØnh B¾c giang
B¶n ¸n sè: 32/2017/HSST
Ngµy 18/7/2017

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG -TỈNH BẮC GIANG

Với thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Nguyễn Văn Ngữ

Các hội thẩm:

Ông Trần Thành Đô .

Ông Phạm Đình Thìn.

Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Ngô Thị Thủy – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát huyện Lạng Giang tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2017, Tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, Tòa án xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 29/2017/HSST ngày 04 tháng 5 năm 2017, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2017/QĐXX-HS ngày 03 tháng 7 năm 2017, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn C, sinh năm 1976. Tên gọi khác: Không; Trú tại: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 6/12; Con ông Hoàng Văn P và bà Nguyễn Thị S (đều đã chết); Gia đình có 08 anh, chị em, bị cáo là thứ 8; Có vợ là Giáp Thị T, sinh năm 1979 và có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2002.

- Tiền án, tiền sự: Chưa có.

- Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/12/2016 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện Lạng Giang.(có mặt)

* Người bị hại: Anh Hoàng Văn K, sinh năm 1978; trú tại thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (đã chết) do chị Hà Thị B, sinh năm 1981 trú tại thôn G, xã T đại diện theo ủy quyền.(có mặt)

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1- Chị Giáp Thị T, sinh năm 1979; trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang .(có mặt)

2 – Chị Hà Thị B, sinh năm 1981; trú tại thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)

3 – Ông Hoàng Văn V, sinh năm 1948; trú tại thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

4 – Bà Giáp Thị T, sinh năm 1948; trú tại thôn G, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

(ông V, bà T do chị B đại diện theo ủy quyền)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Hoàng Văn C bị Viện kiểm sát nhân dân huyện L¹ng Giang truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Sáng ngày 06/12/2016, Hoàng Văn C và Hoàng Văn K cùng sửa cửa cho anh Nguyễn Văn Đ ở phố T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày thì nghỉ, C, K và anh Đ cùng ăn cơm uống rượu với nhau đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày thì xong. Do C không lấy tiền công sửa cửa nên anh Đ cho C và anh K 04 chai rượu và 01 con cá thu đông lạnh. Anh K chở C về đến phố T, xã T thì rẽ vào quán cuả anh H để K cắt tóc. Cắt tóc xong C và anh K ngồi tại quán uống mỗi người hai cốc bia rồi K thanh toán tiền chở C về nhà. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày về đến nhà C, thấy không có ai ở nhà, C đem cá thu xuống bếp nấu, sau đó đem cá lên phòng khách để uống rượu với K. C và K uống hết 01 chai rượu màu, 01 chai nhựa rượu trắng. Sau khi uống rượu xong, C dọn bát đũa đem xuống bếp rồi đi ra ruộng đỗ ở trước cửa nhà hái đỗ đem về nhà để tối vợ, con C nấu ăn. Khoảng 18 giờ ngày 06/12/2016, C đem đỗ về đến hiên nhà thấy K đi lại trong nhà, chỉ mặc quần lót, áo mở phanh hở bụng. C đi vào trong nhà nhìn qua cửa sổ phòng ngủ thấy có bóng người con gái đi ở vườn sau nhà (đó là con gái C, đi học về không dám vào nhà), lúc này C bảo K “thằng này sao lại ăn mặc thế này”, K có nói lại với C câu gì đó nhưng do say rượu nên C không nhớ K nói gì. Sau đó C và K giằng co, lôi kéo, đấm nhau từ trong nhà ra hiên thì K bị ngã xuống đất, nằm nghiêng bên trái, đầu hướng vào phòng khách, mặt quay về phía cửa lách nhà, hai chân co và có ý định đứng dậy. C dùng tay phải vơ lấy dây chun ở hiên cầm thành nhiều vòng gập lại, rồi vụt nhiều nhát vào bụng, sườn, đùi của K. Thấy K nằm im không dậy được C để dây chun ở sân rồi đi bộ sang nhà ông S ở cạnh nhà bảo “ông vào giúp con ngay, con vừa đánh nhà con và con bé, nó bố láo, con đánh chết” rồi đi về nhà. Sau đó ông S cùng con trai là Giáp Văn T đi sang nhà C thấy K nằm ở hiên, nghĩ K say rượu nên ông S và anh T quay về nhà. Đến gần 19 giờ cùng ngày, chị T và anh Đ là vợ, con C đi làm về thấy anh K nằm ở hiên, còn C đi lại quanh nhà nói lẩm bẩm. Nghĩ C và anh K uống rượu say đánh nhau nên chị T gọi điện cho anh Hoàng Văn T là cháu họ ở cùng thôn bảo T gọi anh Giáp Văn K, anh Hoàng Văn K, đến đưa anh K về. Đến nơi thấy anh K nằm ở hiên nhà, Tường và anh K mặc lại quần áo cho anh K rồi đưa anh K về nhà, anh Đ đi xe mô tô của anh K để nhà anh K. Sau khi được đưa về nhà, anh K ngủ đến sáng ngày 07/12/2016 kêu đau bụng, khó thở được gia đình đưa đi Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang cấp cứu nhưng trên đường đến Bệnh viện đã bị chết.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 3073/16/GĐPY ngày 08/12/2016 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bắc Giang, kết luận: Nguyên nhân chết của Hoàng Văn Ký là Sốc mất máu do Bầm dập, chảy máu mạc treo, rách hỗng tràng”.

Tại Bản kết luận giám định pháp y bổ sung số 7549/16/GĐPY ngày 15/12/2016 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bắc Giang, kết luận:

“1. Các thương tích: Vết chợt da vùng trán trái, đám bầm tím sau tai trái, mắt trái bầm tím, mắt phải bầm tím, vết chợt da vùng sống mũi, vết bầm tím má trái, hai vết chợt da má phải, 03 vết chợt da trước tai trái, hai vết chợt da sau vành tai trái, vết chợt ra vùng cằm, vết chợt da dưới hàm trái, 04 vết chợt da vùng cổ trái, vết chợt da vùng hạ sườn phải, đám chợt da bầm tím mặt sau 1/3 trên cánh tay trái sát hõm nách, nhiều vết chợt da nhỏ mặt trước 1/3 dưới cẳng tay trái, vết chợt da mặt sau 1/3 dưới cẳng tay trái, 06 vết bầm tím mặt trước trong đùi trái, vết chợt da gối trái, nhiều vết bầm tím mặt trước trong đùi phải, vết trầy xước da mặt ngoài 1/3 dưới đùi phải: 0% (không phần trăm).

- 05 vết bầm tím vùng bụng, thành bụng tụ máu tổ chức dưới da vùng tổn thương bầm tím, ổ bụng có khoảng 1500ml, mạc treo ruột non có đám bầm dập, chảy máu và có khối máu tụ, rách hỗng tràng là nguyên nhân gây tử vong.

2. Cơ chế hình thành các thương tích:

- Các thương tích: Vết chợt da vùng trán trái, vết chợt da vùng sống mũi, 02 vết chợt da má phải, 03 vết chợt da trước tai trái, 02 vết chợt da sau vành tai trái, vết chợt da vùng cằm, vết chợt da dưới hàm trái, 04 vết chợt da vùng cổ trái, vết chợt da vùng hạ sườn phải, nhiều vết chợt da nhỏ mặt trước 1/3 dưới cẳng tay trái, vết chợt da mặt sau 1/3 dưới cẳng tay trái, vết chợt da gối trái, vết trầy xước da mặt ngoài 1/3 dưới đùi phải: Do cào xước và trà sát gây nên.

- Các thương tích: Đám bầm tím sau tai trái, mắt trái bầm tím, mắt phải bầm tím, vết bầm tím má trái, đám chợt da bầm tím mặt sau 1/3 trên cánh tay trái sát hõm nách, 05 vết bầm tím vùng bụng, 06 vết bầm tím mặt trước trong đùi trái, nhiều vết bầm tím mặt trước trong đùi phải: Do vật tày gây nên.

3. Việc Hoàng Văn K chết do sốc mất máu do bầm dập, chảy máu mạc treo, rách hỗng tràng là do tác động của ngoại lực gây nên.

4. Một người dùng đoạn dây chun cao su dài 3,71m, hai đầu có móc kim loại, dây có tiết diện rộng 0,7cm, độ dày 0,7cm vụt vào phần bụng của Hoàng Văn K trong trạng thái K đang nằm gây được thương tích bầm dập, chảy máu mạc treo, rách hỗng tràng”.

Sau khi biết anh Ký chết, hồi 12 giờ 15 phút ngày 07/12/2016, Hoàng Văn C đến Công an xã T, huyện Lạng Giang đầu thú khai nhận hành vi gây thương tích cho anh K.

T¹i C¬ quan ®iÒu tra Hoàng Văn C ®· khai nhËn toµn bé hµnh vi ph¹m téi cña m×nh nh ®· nªu trªn.

T¹i b¶n c¸o tr¹ng sè 29/KSĐT ngµy 04/5/2017 cña ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huþªn L¹ng Giang ®· truy tè bÞ c¸o Hoàng Văn C vÒ tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự.

Sau phÇn xÐt hái, t¹i phÇn tranh luËn đ¹i diÖn Viện kiểm sát nhân dân huyện L¹ng Giang giữ quyền công tố tại phiên tòa trình bày bản luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Hoàng Văn C phạm tội Cố ý gây thương tích, đề nghị HĐXX: Áp dông kho¶n 3 Điều 104; ®iÓm b, p kho¶n 1, khoản 2 §iÒu 46; Điều 47; Điều 33 BLHS, xử ph¹t bị cáo tõ 3 năm ®Õn 3 năm 6 tháng tï, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đầu thú, tạm giữ, tạm giam 07/12/2017. Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn C thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận mà chỉ xin HĐXX cho hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình.

Chị Hà Thị B là người đại diện cho người bị hại cho rằng có đồng phạm khác cùng bị cáo C gây thương tích cho anh K và đề nghị HĐXX hoãn phiên tòa để chị mời luật sư bảo vệ quyền lợi.

- C¨n cø vµo c¸c chøng cø vµ tµi liÖu ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ, c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ. Trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña KSV, cña bÞ c¸o, người đại diện cho người bị hại và những người tham gia tố tụng khác.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Lạng Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, tình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện cho người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung vụ án:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 06/12/2016, tại nhà của Hoàng Văn C thôn T, xã T, huyện L, sau khi C và anh Nguyễn Văn K cùng nhau uống rượu rồi xảy ra xô xát. C và K lôi, kéo, giằng co nhau từ trong nhà ra đến hiên thì K bị ngã nằm ở hiên nhà. Hoàng Văn C dùng dây chun cao su ở hai đầu có móc bằng kim loại vụt nhiều cái từ trên xuống dưới vào phần bụng, sườn và đùi anh K. Hậu quả, đến sáng ngày 07/12/2016 anh K bị chết.

Tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự quy định “Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỉ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người...., thì bị phạt tù từ 5 năm đến 15 năm”.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp vÒ thêi gian, ®Þa ®iÓm xảy ra tội phạm, phï hîp với lêi khai cña người liên quan, người làm chứng cũng như tang vật đã thu hồi được.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm tới tính mạng của anh Hoàng Văn K được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do sử dụng rượu bia nên không làm chủ được hành vi của mình nên đã xảy ra xô xát với người bị hại, bị cáo dùng dây cao su vụt nhiều lần vào người làm anh Hoàng Văn Ký chết, hậu quả chết người là ngoài mong muốn của bị cáo.

Vì vậy, VKSND huyện Lạng Giang truy tố bị cáo Hoàng Văn C về tội cố ý gây thương tích theo khoản 3 Điều 104 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét ý kiến của của chị B cho rằng có đồng phạm khác, HĐXX thấy: Chị B không đưa ra được bất kỳ chứng cứ hoặc nhân chứng nào, chị chỉ dựa vào báo mộng của anh K. Vì vậy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu trên.

Đối với yêu cầu hoãn phiên tòa để mời luật sư bảo vệ quyền lợi: HĐXX xét thấy, trong suốt thời gian dài của quá trình điều tra, truy tố và chuẩn bị xét xử, chị Bằng không mời luật sư, và tại phiên tòa chị cũng đã được HĐXX giải thích quyền và nghĩa vụ nhưng không đề nghị hoãn phiên tòa để mời luật sư. Vì vậy, kết thúc phần tranh luận, chị đề nghị hoãn phiên tòa không có căn cứ pháp luật nên không được HĐXX chấp nhận.

[3]. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, HĐXX thấy:

- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt, thể hiện bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhất thời phạm tội. Sau khi biết anh K chết, bị cáo đã ra đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; Bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS.

Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, HĐXX thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học chung cho mọi người.

Tuy nhiên khi quyết định mức hình phạt, do bị cáo có 2 tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS nên HĐXX áp dụng Điều 47 BLHS, cho bị cáo hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định.

[4]. Về trách nhiệm dân sự:

Chị Giáp Thị T là vợ bị cáo đã bồi thường cho gia đình anh K tổng số tiền 150.000.000đ, đại diện theo ủy quyền của gia đình người hị hại là chị Hà Thị B đã nhận tiền, không yêu cầu bồi thường gì thêm, chị T cũng không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền đã bồi thường cho gia đình người bị hại nên HĐXX không đặt ra xem xét.

[5]. Về vật chứng:

+ 01dây chun cao su dài 3,71m hai đầu có móc kim loại; 01 chiếc áo dài tay màu xanh; 01 quần dài thô màu xám; 01 mũ cối màu xanh là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

+ 04 vỏ chai thu tại nhà C, 03 chai rượu thu cốp xe mô tô anh K và 01 túi vải có chữ DUXIANNU là tài sản có giá trị nhỏ nên tịch thu tiêu hủy.

Bị c¸o ph¶i chÞu ¸n phÝ và được quyÒn kh¸ng c¸o bản án theo quy ®Þnh của ph¸p luËt.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1]. Tuyªn bè BÞ c¸o Hoàng Văn C ph¹m téi “Cố ý gây thương tích”.

- ¸p dông kho¶n 3 §iÒu 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 33 BLHS.

- Xử phạt Hoàng Văn C 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo ra đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam 07/12/2016.

[2]. Về vật chứng: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

+ 01dây chun cao su dài 3,71m hai đầu có móc kim loại; 01 chiếc áo dài tay màu xanh, phần sườn nách bên trái bị rách, túi ngực hai bên rách, mặt trong dưới cổ áo có chữ TCHC Cục quân nhu; 01 quần dài thô màu xám, phía trước ống quần bên trái gần cạp quần có 2 vết sơn màu đỏ; 01 mũ cối màu xanh, vành mũ rộng 25cm, dài 30cm, đỉnh mũ bị bẹp lõm.

+ 01 chai nhựa có nắp màu xanh; 01 chai nhựa màu trắng, nắp màu vàng trên thân chai có chữ YOKU; 01 chai nhựa màu xanh loại 1,5l nắp màu đỏ có chữ COCACOLA và 01 túi vải có chữ DUXIANNU.

+ 01 chai thủy tinh loại 700ml trên thân có chữ BLACK, bên trong có dung dịch chất lỏng.

+ 01 chai thủy tinh có chữ BLACK; 01 chai thủy tinh có chữ NAPONEON; 01 chai nhựa có chữ AQUARIA (tất cả đều chứa chất dung dịch chất lỏng.

[3]. Về án phí: Áp dông Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 ¸n phÝ, lÖ phÝ Toµ ¸n.

Bị cáo Hoàng Văn C ph¶i chÞu 200.000 ®ång ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.

Trưêng hîp b¶n ¸n, quyÕt ®Þnh ®ưîc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 2 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù th× ngưêi ®ưîc thi hµnh ¸n d©n sù, ngưêi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tho¶ thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ cưìng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t¹i c¸c §iÒu 6, 7,7a, 7b vµ 9 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù; Thêi hiÖu thi hµnh ¸n ®ưîc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i ®iÒu 30 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù.

[4]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 231, Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự.

Báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Báo cho người đại diện cho người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

¸n xö s¬ thÈm c«ng khai. N¬i nhËn:

Cỡ chữ