vanban.org

Bản án 32/QĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ánh T đối với ông Trần Chí C về việc “Ly hôn”

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ánh T được ly hôn với ông Trần Chí C. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ánh T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, sung ngân sách Nhà nước, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0004321, ngày 11/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Ánh T - Trần Chí C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ánh T đối với ông Trần Chí C về việc “Ly hôn”
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 94/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 04-6-2020
V/v “ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tài.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Rạt

2. Bà Trương Thị Kim Cương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Quân - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Trong ngày 04 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 1299/2020/TLST-HNGĐ ngày 18/12/2019 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27/4/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 32/QĐ.ST – HPT ngày 19/5/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ánh T, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Số 56, Cầu Láng, xã M, huyện C, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Ông Trần Chí C, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Khu vực 2, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.

(Bà T xin vắng mặt, ông C vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn ngày 17/12/2019 và tại bản tự khai của bà Nguyễn Thị Ánh T trình bày tóm tắt như sau:

Bà và ông Trần Chí C là vợ chồng, sống với nhau năm 2012 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Long An ngày 15 tháng 12 năm 2012. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã. Bà đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng ông C vẫn không thay đổi tính tình. Bà đã cho ông C nhiều cơ hội để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng vẫn không thực hiện được. Bà và ông C đã ly thân từ năm 2019 cho đến nay, trong thời gian ly thân không hàn gắn. Nay thấy tình cảm không còn yêu thương và cũng không thể hàn gắn nên bà xin ly hôn với ông Trần Chí C.

Về con chung: Bà và ông C chung sống nhau không có con chung.

Về tài sản chung: Bà T xác định tài sản chung bà và ông C không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, bị đơn ông Trần Chí C được Tòa án tống đạt hợp lệ các thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông C không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của bà T. Ông C cũng không đến Tòa để tham gia phiên họp kiểm tra chứng cứ và hòa giải. Đối với bà T, bà có đơn đề nghị Tòa án không hòa giải vụ án. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở trình bày của đương sự, qua thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Ánh T có đơn xin vắng mặt, bị đơn ông Trần Chí C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ánh T và ông Trần Chí C cưới nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Long An được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 15/12/2012 (số 137/2012) nên quan hệ hôn nhân của bà T và ông C được pháp luật thừa nhận là hợp pháp từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Bà T cho rằng cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc là do ông C không quan tâm chăm sóc gia đình nên mới xin ly hôn. Ông C được tống đạt hợp lệ các văn bản của Tòa án thể hiện việc bà T yêu cầu xin ly hôn với ông tại Tòa án nhưng ông C không có ý kiến, không thể hiện ý chí đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tại bản tự khai của bà T xác định không còn tình cảm với ông C và cương quyết ly hôn. Điều đó, chứng tỏ quan hệ hôn nhân của bà T và ông C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận theo đơn yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Ánh T đối với ông Trần Chí C.

Về quyền nuôi con chung: Bà T cho rằng bà và ông C chung sống nhau không có con chung, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cặp xem xét đến.

Về tài sản chung: Bà T xác định bà và ông C không có tài sản chung cũng như nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông C không có ý kiến gì về tài sản chung và nợ chung giữa các bên. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vấn đề tài sản chung và nợ chung của bà T và ông C.

Trường hợp sau này các bên có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Ánh T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28 Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 9, Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ánh T đối với ông Trần Chí C về việc “Ly hôn”

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ánh T được ly hôn với ông Trần Chí C.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ánh T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, sung ngân sách Nhà nước, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0004321, ngày 11/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An để thi hành.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án, nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án.

“Trường hợp bản án hoặc quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 05 năm theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”.

Cỡ chữ