- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa anh Phan Phi K với Trương Thị Thu N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phan Phi K.
- Căn cứ chính? Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30-6-2023 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hữu Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Kiên
ông Huỳnh Hoàng Thành
- Thư ký phiên tòa: ông Thái Thành Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: bà Lữ Thị Tuyết Lan – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 20/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2023 về: “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 30/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: anh Phan Phi K; cư trú tại: F Castle P, STE#2B, F, V, Hoa Kỳ.
- Bị đơn: chị Trương Thị Thu N; cư trú tại: ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 03/3/2023, nguyên đơn anh Phan Phi K trình bày: anh và chị Trương Thị Thu N kết hôn, có đăng ký tại Ủy ban nhân huyện T, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 29/12/2022, hôn nhân do tự tìm hiểu. Thời gian đầu anh có ý định bảo lãnh chị N sang Hoa Kỳ chung sống với anh và gia đình. Tuy nhiên sau khi kết hôn, anh phát hiện chị N lừa dối anh, có người đàn ông khác bên ngoài, làm anh rất thất vọng. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh yêu cầu được ly hôn với chị Trương Thị Thu N.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/5/2023, bị đơn chị Trương Thị Thu N trình bày: chị và anh Phan Phi K quen biết, tìm hiểu nhau khoảng 9 năm mới kết hôn, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Long nhưng không tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn, chị và Phan Phi K xảy ra mâu thuẫn, hai người thường hay cự cãi nhau và không có chung sống với nhau. Sau đó, anh Phan Phi K trở về Hoa Kỳ và hai người không còn liên lạc với nhau nữa. Anh Phan Phi K cho rằng chị lừa dối anh và có người đàn ông khác ở bên ngoài là không đúng. Hiện tại, chị xác định tình cảm giữa chị và anh Phan Phi K không còn, anh Phan Phi K yêu cầu ly hôn, chị đồng ý.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Anh Phan Phi K và chị Trương Thị Thu N có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với họ.
Xét anh Phan Phi K và chị Trương Thị Thu N kết hôn vào năm 2022 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Long nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét quan hệ hôn nhân giữa anh Phan Phi K quốc tịch Hoa Kỳ với chị Trương Thị Thu N là công dân Việt Nam là quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được quy định tại khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tại thời điểm thụ lý vụ án, nguyên đơn anh Phan Phi K là người nước ngoài không định cư, làm ăn, học tập ở Việt Nam, nguyên đơn yêu cầu ly hôn với chị Trương Thị Thu N cư trú tại huyện T, tỉnh Vĩnh Long, đây là vụ án có đương sự ở nước ngoài, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
Tại điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam. Căn cứ vào Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì việc ly hôn này được áp dụng pháp luật Việt Nam giải quyết.
Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì vợ chồng phải có nghĩa vụ chung sống với nhau, yêu thương, quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau. Thực tế giữa anh Phan Phi K và chị Trương Thị Thu N không còn quan tâm chăm sóc nhau, không thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng, ai biết bổn phận của người đó, quan hệ hôn nhân giữa hai người chỉ tồn tại trên hình thức, thực chất tình cảm vợ chồng không còn. Anh Phan Phi K yêu cầu ly hôn, chị Trương Thị Thu N đồng ý. Xét thấy hai bên đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình việc anh Phan Phi K yêu cầu ly hôn với chị Trương Thị Thu N là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung anh Phan Phi K không yêu cầu giải quyết.
[5] Về án phí: căn cứ Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì anh Phan Phi K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Tại phiên Tòa vị Kiểm sát viên phát biểu việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và đề nghị: chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, áp dụng đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phan Phi K.
1. Về quan hệ hôn nhân: cho anh Phan Phi K được ly hôn với chị Trương Thị Thu N.
2. Án phí: anh Phan Phi K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí anh đã nộp theo biên lai thu số 383 ngày 16 tháng 3 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
Anh Phan Phi K và chị Trương Thị Thu N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - TANDCC: 01b; - VKSNDTVL: 02b - CATANDTVL: 01b; - THADSTVL: 02b; - UBNDHT: 01b; - Đ/sự: 02b; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án: 04b. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Tuấn |