- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh Đ - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (điều 145 Luật sửa đổ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Trần Thanh Đ phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 145 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2026/HSST Ngày: 09-02-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: ông Lê Qúy Cường.
- Các hội thẩm nhân dân:
+ Bà Nguyễn Thị Trà Giang.
+ Ông Trần Thanh Tùng.
- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Mai – Thư ký TAND khu vực 13.
- Đại diện VKSND khu vực 13: bà Trần Minh Quế – Kiểm sát viên.
Ngày 09-02-2026, tại trụ sở TAND khu vực 13 xét xử vụ án hình sự thụ lý số 07/2026/HSST ngày 09-01-2026 đối với bị cáo:
Trần Thanh Đ (Tên gọi khác: T), sinh ngày: 22-3-2003; Giới tính: Nam.
Trú tại: ấp Đ, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Công nhân.
CCCD: 077203007006.
Con ông Trần Doanh Quốc L và bà Tiết Thanh P.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 23-9-2025 - Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: em Bùi Thị Lan N, sinh ngày 28-6-2010.
Địa chỉ: tổ 1 ấp T, xã N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp cho cháu N: Bà Võ Thị Hồng P, sinh năm 1979 và ông Bùi Vạn L, sinh năm 1978 (Có mặt).
Cùng địa chỉ: tổ 1 ấp T, xã N, Thành phố Hồ Chí Minh.
- 1 -
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho cháu N: bà Lê Thị Thúy - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý số 3, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà Tiết Thanh P, sinh năm 1976 (Có mặt).
Địa chỉ: ấp Đ, xã H, Tp Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do quen biết và hẹn nhau trước đó, nên vào khoảng 19 giờ ngày 17-9-2025, Trần Thanh Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 72H1-144.51 đến nhà đón cháu Bùi Thị Lan N tại ấp T, xã N, Thành phố Hồ Chí Minh đi chơi. Trên đường đi, Đ vào tiệm tạp hóa mua 02 lon bia và 01 lon nước ngọt rồi chở cháu N đến ngồi chơi tại khu vực bờ kè thuộc xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Đ lấy lý do chóng mặt, nhứt đầu để đưa cháu N đến thuê phòng số 3 của nhà nghỉ “Nguyễn Lê” thuộc ấp Mỹ An, xã Phước Hải. Tại đây, Đ đã có hành vi hôn môi, dùng tay cởi quần áo cháu N rồi dùng dương vật đang cương cứng đưa vào âm đạo cháu N thực hiện hành vi giao cấu. Thấy âm đạo cháu N bị chảy máu nên Đ dừng lại, không tiếp tục quan hệ tình dục. Sau đó, cả hai trả phòng đi về. Đ chở cháu N đến quảng trường Phước Hải và bỏ đi về nhà của mình. Còn cháu N gọi điện kêu người nhà đến đón và ra Cơ quan Công an trình báo sự việc.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Thanh Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.
* Kết luận giám định:
Tại Kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 31/2025/KLTDTE-PYHCM-CS3 ngày 26-9-2025 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Bùi Thị Lan N không có dấu sây sát da hay bầm tím trên cơ thể và vùng bẹn đùi hai bên. Rách màng trinh khuyết sâu ở vị trí 9 giờ. Viêm đỏ kèm bầm máu màng trinh. Có tinh trùng trong dịch phết âm hộ và âm đạo”.
Tại Kết luận giám định ADN số 72/2025/KLGĐADN-PY.CS1 ngày 12-12-2025 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “ADN của Trần Thanh Đ có hiện diện trong mẫu phết dịch âm đạo, phết dịch âm hộ và phết vùng hậu môn của Bùi Thị Lan N”
* Vật chứng, thu giữ và xử lý:
Cơ quan điều tra thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Samsung GalaxyA12 màu xanh (imei1: 354312130461461; imei2: 355235620461460) thu giữ của Trần Thanh Đ; 01 ga trải giường màu da beo có dính máu thu giữ của Nguyễn Văn Tín chủ nhà nghỉ “Nguyễn Lê”; 01 áo thun nữ màu đen, 01 áo lót nữ màu trắng, 01 quần dài nữ sọc đen trắng và 01 quần lót nữ màu trắng thu giữ của cháu Bùi Thị Lan N. Tất cả các vật chứng
- 2 - trên hiện đã chuyển Phòng Thi hành án dân sự khu vực 13, Thành phố Hồ Chí Minh tạm giữ chờ xử lý theo quy định.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 72H1-144.51 (SM: 1FC3127854; SK: RLCS1FC30FY127846) là tài sản hợp pháp của bà Tiết Thanh P (sinh năm: 1976 – là mẹ của Đ). Bà P không biết Đ sử dụng xe chở cháu N đến nhà nghỉ “Nguyễn Lê” thực hiện hành vi phạm tội. Ngày 19/12/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý trả xe cho bà P (bút lục số 96 đến 102)
- Đối với thẻ nhớ nhãn hiệu IMOU 64GB màu đen bên trong lưu trữ 03 đoạn video ghi lại hình ảnh Trần Thanh Đ chở cháu Bùi Thị Lan N đến nhà nghỉ “Nguyễn Lê” vào lúc 20 giờ và ra về lúc 21 giờ trong ngày 17-9-2025 được lưu theo hồ sơ vụ án.
* Trách Nệm dân sự: Trần Thanh Đ đã tác động gia đình bồi thường cho cháu Bùi Thị Lan N số tiền 15.000.000đ. Hiện gia đình của cháu N không còn yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách Nệm hình sự đối với Đ.
Bản cáo trạng số 57/CT-VKSKV13 ngày 09-01-2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 đã truy tố bị cáo Trần Thanh Đ về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo khoản 01 điều 145 BLHS.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 01 Điều 145; điểm b, s khoản 01, khoản 02 Điều 51, các Điều 38, 50 BLHS phạt bị cáo Đ về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” với mức án từ 12 đến 18 tháng tù. Còn bị cáo Đ thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như truy tố của VKS và đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ sớm được trở về lo phụ giúp gia đình. Người bảo vệ quyền lợi của bị hại cho rằng cháu N hiện là trẻ em và bị quan hệ tình dục sớm làm ảnh hưởng đến sự phát triển về sau, việc Đ bị truy tố là đúng người đúng tội và đồng ý với quan điểm của VKS.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định tội danh: Qua lời khai nhận của bị cáo Đ tại phiên toà đối chiếu với lời khai của bị hại và những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, cho thấy: Thông qua mạng xã hội, bị cáo Trần Thanh Đ và em Bùi Thị Lan N quen biết và hẹn đi chơi với nhau, vào khoảng 19 giờ ngày 17-9-2025, bị cáo Đ điều khiển xe mô tô đến tổ 1 ấp T, xã N, thành phố Hồ Chí Minh để chở em N đi chơi. Trên đường đi, Đ vào tiệm tạp
- 3 - hóa mua 02 lon bia và 01 lon nước ngọt rồi chở em N đến khu vực bờ kè thuộc xã Phước Hải, Thành phố Hồ Chí Minh ngồi chơi. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, bị cáo Đ viện lý do chóng mặt, nhứt đầu để chở em N đến thuê phòng số 3 của nhà nghỉ “Nguyễn Lê” thuộc ấp Mỹ An, xã Phước Hải. Vào trong phòng, bị cáo Đ đã có hành vi hôn lên người em N, dùng tay cởi quần áo rồi dùng dương vật của mình đang cương cứng đưa vào âm đạo cháu N thực hiện hành vi giao cấu. Khi thấy âm đạo em N bị chảy máu nên Đ dừng lại rồi cả hai trả phòng đi về. Đ chở cháu N đến quảng trường Phước Hải và bỏ đi về nhà của mình còn cháu N gọi điện kêu người thân đến đón và sau đó ra Cơ quan Công an trình báo sự việc.
Việc Đ là người đã thành niên quan hệ tình dục với em N khi em chưa đủ 16 tuổi nên đã phạm vào tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Cho nên VKSND khu vực 13 truy tố bị cáo Đ về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo khoản 01 Điều 145 BLHS là có cơ sở và đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Hành vi của bị cáo Đ thuộc trường hợp nghiêm trọng vì đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của bị hại, gây tâm lý hoang mang cho người dân. Vì vậy bị cáo phải bị xử lý trách nhiệm hình sự với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ do bị cáo gây ra nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa.
Tình tiết tăng nặng: Trong vụ án này, bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu; thật thà khai báo ăn năn hối cải; đã bồi thường khắc phục hậu quả và gia đình bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 01, khoản 02 Điều 51 BLHS; bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội được tặng danh hiệu chiến sĩ tiên tiến theo quy định tại khoản 02 Điều 51 BLHS nên cần xem xét các tình tiết này để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị cáo tác động đến gia đình bồi thường cho phía bị hại số tiền 15.000.000đ và tại phiên tòa hôm nay, đại diện hợp pháp cho bị hại không còn yêu cầu gì thêm nên không xét đến.
Xử lý vật chứng tạm giữ:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung GalaxyA12 màu xanh (imei1: 354312130461461; imei2: 355235620461460) thu giữ của Trần Thanh Đ là là tài sản của bị cáo Đ không liên quan đến vụ án nên được giao trả.
- 01 ga trải giường màu da beo có dính máu thu giữ của ông Nguyễn Văn T chủ nhà nghỉ “Nguyễn Lê” là tài sản không liên quan đến vụ án và không có giá trị sử dụng, chủ sở hữu không có nhu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 áo thun nữ màu đen, 01 áo lót nữ màu trắng, 01 quần dài nữ sọc đen trắng và 01 quần lót nữ màu trắng thu giữ của cháu Bùi Thị Lan N là tài sản của em N nhưng
- 4 - không liên quan đến vụ án và không có giá trị sử dụng, em N không có nhu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 thẻ nhớ nhãn hiệu IMOU 64GB màu đen bên trong lưu trữ 03 đoạn video ghi lại hình ảnh Trần Thanh Đ chở cháu Bùi Thị Lan N đến nhà nghỉ “Nguyễn Lê” là chứng cứ điện tử được lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1) Tuyên bố: bị cáo Trần Thanh Đ phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
2) Áp dụng khoản 01 Điều 145 BLHS; điểm b, s khoản 01, khoản 02 Điều 51; các Điều 38, 50 BLHS.
Phạt bị cáo Trần Thanh Đ 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23-9-2025.
3) Trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong.
4) Vật chứng tạm giữ: áp dụng Điều 47 BLHS.
- Giao trả cho Trần Thanh Đ 01 điện thoại di động hiệu Samsung GalaxyA12 màu xanh (imei1: 354312130461461; imei2: 355235620461460).
- Tịch thu tiêu hủy 01 ga trải giường màu da beo có dính máu.
- Tịch thu tiêu hủy 01 áo thun nữ màu đen, 01 áo lót nữ màu trắng, 01 quần dài nữ sọc đen trắng và 01 quần lót nữ màu trắng.
(Toàn bộ vật chứng trên Phòng thi hành án dân sự khu vực 13 đang tạm giữ theo biên bản số 45/BB ngày 15-01-2026).
- Lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ nhãn hiệu IMOU 64GB màu đen.
5) Án phí: Áp dụng điểm a, f Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30-12-2016 của UBTVQH10. Bị cáo Trần Thanh Đ phải chịu 200.000đ án phí HSST.
Căn cứ các Điều 331, 333, 336 và 337 của Bộ luật tố tụng hình sự: bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày (đối với người vắng mặt thời hạn trên được tính từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết); Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
- 5 - cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật THA dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND Tp HCM. - Sở Tư pháp Tp HCM. - VKSND Tp HCM. - Công an Tp HCM. - VKSND khu vực 13. - Phòng THADS khu vực 13. - Bị cáo + Lưu V phòng. - | TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ. (Đã ký) Lê Quý Cường - 6 |