- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng - chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân d…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HUẾ Th PHỐ HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2026/HS-ST Ngày 15-4-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HUẾ, Th PHỐ HUẾ
- Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Quốc Toản và ông Hồ Sỹ Định.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Ngọc Trinh, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Huế, Th phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát khu vực 4 - Huế, Th phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Trần Đình Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Huế, Th phố Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2026/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2026/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2026/HSST-QĐ, ngày 07 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H (tên gọi khác: Ken Rít); giới tính: Nam; sinh ngày 16 tháng 9 năm 1995 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Thôn HL, xã HL, Th phố Huế; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân số: 060095014xxx, cấp ngày: 28/6/2021 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; con ông Nguyễn Th, sinh năm 1967 và bà Huỳnh Thị Bích H1, sinh năm 1968; Gia đình có 03 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ hai; vợ chưa có; có 02 người con: con thứ nhất sinh năm 2021 là con chung của Nguyễn Văn H với chị Nguyễn Thị Linh, sinh năm: 1994 (không đăng ký kết hôn), con thứ hai sinh năm: 2023 là con chung của Nguyễn Văn H với chị Võ Thị PH1 Th1, sinh năm: 2000 (không đăng ký kết hôn).
Quá trình nhân thân: Từ năm 1995 đến 2010 còn nhỏ sống tại Thôn HL, xã HL, Th phố Huế; từ 2010 đến 2018 vào sống tại Th phố Hồ Chí Minh. Ngày 18/9/2018 bị Tòa án nhân dân Th phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án hình sự phúc thẩm số 403/HSPT (đã thi hành xong bản án); Ngày 31/12/2023 có hành vi sử dụng trái phép các loại pháo nổ, bị Ủy ban nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế (cũ) xử phạt hành chính số tiền 7.500.000 đồng (đã thi hành); Ngày 12/8/2025, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Th phố Huế khởi tố về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay tại Trại giam Công an Th phố Huế.
Tiền án, tiền sự: Không.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác (bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 13/8/2025 cho đến nay). Có mặt.
- Người làm chứng:
+ Bà Huỳnh Thị Bích H1, sinh năm: 1968. Nơi cư trú: Thôn HL, xã HL, Th phố Huế. Có mặt.
+ Chị Võ Thị PH1 Th1, sinh năm: 2000. Nơi cư trú: Thôn HL, xã HL, Th phố Huế. Có mặt.
+ Anh Nguyễn Văn Hòa, sinh năm: 1998. Nơi cư trú: Thôn HL, xã HL, Th phố Huế. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 3/2023, Nguyễn Văn H xuất cảnh sang tỉnh Savanakhet, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào để trồng cây cao su. Quá trình sinh sống, làm việc H quen biết một người đàn ông tên Nam, quốc tịch Lào (không rõ nhân thân, lai lịch) và thấy Nam hay khoe 01 khẩu súng ngắn. H thấy đẹp nên ngỏ lời muốn xin để làm kỷ niệm thì Nam đồng ý. Do sợ không mang qua cửa khẩu được thì Nam nói để đưa sang cửa khẩu đưa cho H. Tháng 9/2023, Nguyễn Văn H nhập cảnh về Việt Nam tại cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị và H đã thông báo cho Nam biết qua ứng dụng Telegram, cả hai hẹn gặp nhau tại khu vực gần cửa khẩu Lao Bảo. Sau khi nhập cảnh về Việt Nam, H đợi Nam tại một quán cà phê gần cửa khẩu. Một lúc sau Nam liên hệ và đến chỗ H và đưa 01 khẩu súng ngắn màu đen, bên trái và bên pH súng có các chữ số “ZORAKI M906-T”, “A3YZR17YS01-2300875” và 28 viên đạn. Nguyễn Văn H nhận xong mang súng và đạn về cất giấu tại khu vực bàn thờ trong nhà H cho đến ngày 13/8/2025 thì bị phát hiện thu giữ.
Vật chứng, đồ vật, tài liệu tạm giữ gồm:
- 01 (một) khẩu súng ngắn màu đen, dài 14 cm, bên trái và bên pH súng có các ký tự chữ, số “ZORAKI M906-T”, “A3YZR17YS01-2300875”;
- 28 (hai mươi tám) viên đạn có cùng đặc điểm: bằng kim loại, dài 2,45 cm, phần thân vỏ màu vàng, đầu đạn màu bạc, đít đạn có các ký tự chữ, số “A USA 380 AUTO”.
Tại Bản kết luận giám định số 1451/KL-KTHS, ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Phân Viện khoa học hình sự tại Th phố Đà Nẵng kết luận:
- Khẩu súng có đặc điểm nêu trên gửi giám định là súng sử dụng bắn đạn cỡ tiêu chuẩn (9x17) mm, hiện tại khẩu súng còn sử dụng bắn được và thuộc vũ khí quân dụng.
- 28 (hai mươi tám) viên đạn có đặc điểm nêu trên gửi giám định là đạn cỡ tiêu chuẩn (9x17) mm, hiện đang còn sử dụng được và thuộc vũ khí quân dụng.
- Xác định ký tự đóng chìm trên súng và đạn: Trên khẩu súng gửi giám định có các ký tự đóng chìm là: “A3YZR17YS01-2300875 - CAL.9mm P.A.K Made by ATAK arms ltd” (bên pH súng); “ZORAKI M906-T” (bên trái súng). Trên đít 28 (hai mươi tám) viên đạn đều có ký tự đóng chìm là: A USA 380 AUTO”. Hiện tại các ký tự đóng chìm nêu trên là nguyên thủy.
Hoàn lại đối tượng giám định: Toàn bộ đối tượng còn lại sau giám định (đã sử dụng bắn thực nghiệm 10 viên đạn trong quá trình giám định).
Về xử lý vật chứng: Tiếp tục tạm giữ các mẫu vật hoàn lại sau giám định tại Kho vũ khí của Bộ chỉ huy quân sự Th phố Huế để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKSH-P1 ngày 19/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Th phố Huế đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội: “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Huế thực hành quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) khẩu súng ngắn màu đen dài 14 cm, bên trái và bên pH súng có các ký tự chữ, số “ZORAKI M906-T”, “A3YZR17YS01-2300875”, kèm theo súng có 01 hộp tiếp đạn bên trong không có đạn. Các mẫu vật được đựng bên trong hộp nhựa màu đen; 18 (mười tám) viên đạn có cùng đặc điểm: bằng kim loại dài 2,45 cm, phần thân vỏ màu vàng, đầu đạn màu bạc, đít đạn có các ký tự chữ, số “A USA 380 AUTO”. Các mẫu vật được dựng bên trong hộp giấy. Các vật chứng này thuộc danh mục vũ khí quân dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Buộc bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đồng ý với kết luận giám định của cơ quan chuyên môn và tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố theo như bản Cáo trạng và quan điểm luận tội. Bị cáo không có ý kiến tranh luận về hành vi, tội danh, hình phạt và các vấn đề khác. Nói lời sau cùng tại phiên tòa: Bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H:
Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, do đó có đủ cơ sở kết luận: Ngày 13/8/2025 tại nhà của Nguyễn Văn H ở Thôn HL, xã HL, Th phố Huế, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Th phố Huế tiến hành khám xét chỗ ở và đã phát hiện, thu giữ 01 (một) khẩu súng ngắn và 28 (hai mươi tám) viên đạn. Căn cứ kết luận giám định số 1451/KL-KTHS, ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Phân Viện khoa học hình sự tại Th phố Đà Nẵng kết luận 01 (một) khẩu súng ngắn và 28 (hai mươi tám) viên đạn là vũ khí quân dụng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn H đã đủ yếu tố cấu Th tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Th phố Huế truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn H có nhân thân rất xấu.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã Th khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét các căn cứ quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm các quy định của Nhà nước về sản xuất, quản lý vũ khí quân dụng, đe dọa đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu và gây tác hại về nhiều mặt đối với đời sống xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ vũ khí quân dụng mà không được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tiếp tục cải tạo, giáo dục bị cáo trở Th công dân tốt và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Nguyễn Văn H tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, hiện bị cáo đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) khẩu súng ngắn màu đen dài 14 cm, bên trái và bên pH súng có các ký tự chữ, số “ZORAKI M906-T”, “A3YZR17YS01-2300875”, kèm theo súng có 01 hộp tiếp đạn bên trong không có đạn. Các mẫu vật được đựng bên trong hộp nhựa màu đen;
- Đối với 18 (mười tám) viên đạn có cùng đặc điểm: bằng kim loại dài 2,45 cm, phần thân vỏ màu vàng, đầu đạn màu bạc, đít đạn có các ký tự chữ, số “A USA 380 AUTO”. Các mẫu vật được dựng bên trong hộp giấy.
Đây là vật thuộc Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và thuộc Phụ lục 1 “Danh mục vũ khí quân dụng” Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ Công an. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu huỷ.
Các vật chứng trên hiện tạm giữ tại: Kho vũ khí thuộc Bộ chỉ huy quân sự Th phố Huế. Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 12/12/2025 giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an Th phố Huế với Bộ Chỉ huy quân sự Th phố Huế.
Các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông tên thường gọi “Nam”, quốc tịch Lào là người đã đưa khẩu súng và 28 viên đạn có đặc điểm nêu trên cho Nguyễn Văn H đưa về cất giấu ở nhà của mình. Nguyễn Văn H không biết về nhân thân của người này, không biết thông tin, địa chỉ sinh sống của người này ở Lào. Nguyễn Văn H và Nam thường liên hệ qua ứng dụng Telegram. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra không đủ căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với bà Huỳnh Thị Bích H1 (mẹ của bị cáo H), anh Nguyễn Văn Hòa (em trai của bị cáo H) và chị Võ Thị PH1 Th1 (người sống chung với bị cáo, không đăng ký kết hôn) cùng sinh sống tại nhà của Nguyễn Văn H tại Thôn HL, xã HL, Th phố Huế không biết việc H cất giấu tại bàn thờ trong nhà 01 khẩu súng và 28 viên đạn nêu trên. Do đó, không có cơ sở xác định bà Huỳnh Thị Bích H1, anh Nguyễn Văn Hòa và chị Võ Thị PH1 Th1 có vai trò đồng phạm với bị cáo H về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án Bản án này.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm:
- 01 (một) khẩu súng ngắn màu đen dài 14 cm, bên trái và bên pH súng có các ký tự chữ, số “ZORAKI M906-T”, “A3YZR17YS01-2300875”, kèm theo súng có 01 hộp tiếp đạn bên trong không có đạn. Các mẫu vật được đựng bên trong hộp nhựa màu đen;
- 18 (mười tám) viên đạn có cùng đặc điểm: bằng kim loại dài 2,45 cm, phần thân vỏ màu vàng, đầu đạn màu bạc, đít đạn có các ký tự chữ, số “A USA 380 AUTO”. Các mẫu vật được dựng bên trong hộp giấy.
Các vật chứng trên hiện tạm giữ tại: Kho vũ khí thuộc Bộ chỉ huy quân sự Th phố Huế. Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 12/12/2025 giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an Th phố Huế với Bộ Chỉ huy quân sự Th phố Huế.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn H pH chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND Th phố Huế; - VKSND Th phố Huế; - Cơ quan An ninh Điều tra CA TP Huế; - Phòng PC06 CA Th phố Huế; - Trại tạm giam Công an TP Huế; - THADS Th phố Huế; - VKSND khu vực 4 - Huế; - Phòng THADS khu vực 4 - Huế; - Công an xã Hưng Lộc; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân Hoàng Quốc Toản Hồ Sỹ Định | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Mạnh Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Mạnh |