vanban.org

Bản án 32/2026/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 31/03/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/03/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Bị cáo Nguyễn Tuấn A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn A - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Bị cáo Nguyễn Tuấn A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2026/HS-PT.
Ngày 31/3/2026.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Khánh Phương.

Các Thẩm phán: Ông Dương Văn Bản và ông Hoàng Anh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Quỳnh Chi – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Nông Quốc Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 31/3/2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 28/2026/TLPT-HS ngày 27/02/2026, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn A đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2026/HS-ST ngày 20/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Thái Nguyên.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Tuấn A, tên gọi khác: Không; sinh ngày 13/6/2006; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố X, phường B, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hoá: 08/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không xác định, con bà Nguyễn Thị L; chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 17/6/2021, Công an thành phố T, tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0121808/QĐ/XPHC, xử phạt cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong;

Ngày 22/4/2022, Công an thành phố T, tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0006426 QĐ/XPHC, xử phạt cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong;

Tại bản án số 379/2023/HS-ST ngày 25/12/2023, Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Chấp hành xong thời gian thử thách ngày 25/12/2024.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang tại ngoại tại địa phương và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Vũ Văn S, Luật sư thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không liên quan đến kháng cáo, Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ 00 phút 06/8/2025, chị Hứa Thị Ngọc L1 là quản lý cửa hàng V, địa chỉ số A đường G, thuộc tổ dân phố T, phường T, tỉnh Thái Nguyên nhận được tin cửa hàng đang bị đối tượng lạ phá cửa lấy tài sản, nên đã trình báo Công an phường T đề nghị giải quyết. Công an phường T đã cử lực lượng tới hiện trường, quá trình xác minh đã xác định được Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C và Nguyễn Khánh L2 là người đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên đã tiến hành lập biên bản sự việc và đưa các đối tượng về trụ sở tiếp tục làm rõ.

Tại Cơ quan Công an Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C và Nguyễn Khánh L2 khai nhận như sau: Nguyễn Tuấn A không có nghề nghiệp đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, quá trình đi lại nhiều qua khu vực chợ D phát hiện có cửa hàng V, có địa chỉ số A, đường G, thuộc tổ dân phố T, có thể trộm cắp tài sản được. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 05/8/2025, Tuấn A đã rủ T và C cùng đi trộm cắp tài sản, C và T đồng ý. Sau đó, T là người chuẩn bị kìm, tua vít, kéo làm công cụ. Cả 03 đi sang nhà của Nguyễn Văn C1, mục đích để rủ C1 tham gia cùng, nhưng C1 không có ở nhà, thì cả 3 vào phòng của C1, T cất công cụ dưới gầm giường nhà C1. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày C1 và Nguyễn Khánh L2 về, Tuấn A rủ C1 và L2 cùng tham gia, L2 đồng ý, C1 không đồng ý. Tuấn A, T, C và L2 cùng nhau bàn bạc, thống nhất kế hoạch ngủ tại nhà của C1, đến khoảng 00 giờ 00 phút ngày 06/8/2025, thì sẽ thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Khi đi, T lấy công cụ để vào cốp xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS 20AL – 015.82 là xe của T điều khiển chở Tuấn A. L2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh ngọc, không gắn biển kiểm soát chở C, cả nhóm di chuyển đến cửa hàng V có địa chỉ như trên. Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 06/8/2025 thì đến nơi, T mở cốp xe để Tuấn A lấy công cụ, còn C, T và L2 thì di chuyển ra gần khu vực gần đó để chờ. Sau khi quan sát khu vực xung quanh không có người, Tuấn A dùng tua vít để cạy phần khung cánh cửa phụ của cửa hàng, dùng kìm để bẩy và lôi cánh cửa ra đặt xuống, rồi dùng tay để với nhặt hàng hóa ở gần khu vực cánh cửa gồm: 04 chai rượu Soju Korice; 01 chai rượu Chivas Regal XV; 09 bao thuốc lá nhãn hiệu V1; 05 bao thuốc lá nhãn hiệu Vinataba Virginia; 6 bao thuốc lá nhãn hiệu Vinataba Slims; 06 bao thuốc lá nhãn hiệu Camel trà đen; 02 bao thuốc lá nhãn hiệu Camel Caster điếu nhỏ; 08 bao thuốc lá nhãn hiệu State Express 555 King Size; 07 bao thuốc lá nhãn hiệu 555 Signature Blue; 10 bao thuốc lá nhãn hiệu 555 Silver 90; 05 hộp hương trầm cổ truyền, nhãn hiệu Bồ đề tâm và 05 gói bánh nhãn hiệu Richy Karo. Sau khi lấy được số tài sản trên, Tuấn A gọi C, T và L2 đến đón và mang số tài sản vừa trộm được mang về nhà văn hóa xóm C, phường B để ăn uống, C về đón C1 tới tham gia ăn uống cùng. Cả nhóm đã sử dụng hết 03 gói bánh nhãn hiệu Richy Karo, 01 chai rượu Soju, 01 bao thuốc lá 555, 01 bao thuốc lá Vinataba và làm vỡ 01 chai rượu Soju. Sau đó, Tuấn A phát hiện để quên chiếc kìm nên đã nhờ T đèo quay lại khu vực cửa hàng để tìm thì bị Công an phường T phát hiện.

Lời khai của Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C, Nguyễn Khánh L2 và Nguyễn Văn C1 phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Kết luận định giá tài sản số 1534/KL-HĐĐG ngày 12/8/2025, của Hội đồng định giá tài sản kết luận: Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt có giá trị là 4.071.400 đồng.

Kết luận giám định pháp y tâm thần số 103/KLGĐ ngày 13/11/2025 Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc, kết luận: Nguyễn Tuấn A, sinh năm: 2006, trú tại: Tổ dân phố X, phường B, tỉnh Thái Nguyên bị bệnh Động kinh/ Chậm phát triển Tâm thần mức độ nhẹ (F- Theo phân loạn bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 về các rối loạn tâm thần và hành vi). Tại thời điểm thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”, ngày 06/8/2025 Nguyễn Tuấn A bị bệnh Động kinh/ Chậm phát triển Tâm thần mức độ nhẹ. Nguyễn Tuấn A hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi. Hiện tại (tại thời điểm giám định) Nguyễn Tuấn A bị bệnh Động kinh/ Chậm phát triển Tâm thần mức độ nhẹ. Nguyễn Tuấn A hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

Kết luận giám định pháp y tâm thần số 104/KLGĐ ngày 13/11/2025 Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc, kết luận: Nguyễn Văn C, sinh năm: 2005, trú tại: Tổ dân phố C, phường B, tỉnh Thái Nguyên bị bệnh Chậm phát triển Tâm thần mức độ nhẹ (F- Theo phân loạn bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 về các rối loạn tâm thần và hành vi). Tại thời điểm thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”, ngày 06/8/2025 Nguyễn Văn C bị bệnh Chậm phát triển Tâm thần mức độ nhẹ. Nguyễn Văn C hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi. Hiện tại (tại thời điểm giám định) Nguyễn Văn C bị bệnh Chậm phát triển Tâm thần mức độ nhẹ. Nguyễn Văn C hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

Kết luận giám định pháp y tâm thần số 105/KLGĐ ngày 13/11/2025 Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc, kết luận: Nguyễn Văn T, sinh năm: 2004, trú tại: Tổ dân phố C, phường B, tỉnh Thái Nguyên bị bệnh Chậm phát triển Tâm thần mức độ nhẹ (F- Theo phân loạn bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 về các rối loạn tâm thần và hành vi). Tại thời điểm thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”, ngày 06/8/2025 Nguyễn Văn T bị bệnh Chậm phát triển Tâm thần mức độ nhẹ. Nguyễn Văn T hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi. Hiện tại (tại thời điểm giám định) Nguyễn Văn T bị bệnh Chậm phát triển Tâm thần mức độ nhẹ. Nguyễn Văn T hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

Với hành vi nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2026/HS-ST, ngày 20/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Thái Nguyên đã tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; b, h, i, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự (BLHS). Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 07 (B) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành bản án. Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Xét xử sơ thẩm xong, ngày 30/01/2026 bị cáo Nguyễn Tuấn A có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo, cải tạo tại địa phương. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận diễn biến hành vi phạm tội đúng như Bản án sơ thẩm đã nêu và giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Quyết định hình phạt của cấp sơ thẩm là có căn cứ, tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết gì mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn A, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX, xử phạt bị cáo từ 3 – 5 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn A gửi trong thời hạn và đúng theo quy định của pháp luật nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

. Căn cứ vào lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 06/8/2025, tại cửa hàng V địa chỉ số A đường G, thuộc tổ dân phố T, phường T, tỉnh Thái Nguyên. Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn C và Nguyễn Khánh L2 đã có hành vi trộm cắp tài sản gồm: 04 chai rượu Soju Korice; 01 chai rượu Chivas Regal XV; 09 bao thuốc lá nhãn hiệu V1; 05 bao thuốc lá nhãn hiệu Vinataba Virginia; 6 bao thuốc lá nhãn hiệu Vinataba Slims; 06 bao thuốc lá nhãn hiệu Camel trà đen; 02 bao thuốc lá nhãn hiệu Camel Caster điếu nhỏ; 08 bao thuốc lá nhãn hiệu State Express 555 King Size; 07 bao thuốc lá nhãn hiệu 555 Signature Blue; 10 bao thuốc lá nhãn hiệu 555 Silver 90; 05 hộp hương trầm cổ truyền, nhãn hiệu Bồ đề tâm và 05 gói bánh nhãn hiệu Richy Karo, có tổng trị giá 4.071.400 đồng. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội Nguyễn Khánh L2 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra đã làm thủ tục chuyển xử lý hành chính.

Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS, là đúng người, đúng tội có căn cứ pháp luật.

. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Tuấn A, HĐXX xét thấy:

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Trong vụ án, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, q, i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 BLHS. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ tình tiết giảm nhẹ mới.

Bị cáo liên tục bị xử phạt hành chính vào năm 2021 và 2022 về hành vi trộm cắp tài sản. Năm 2023 đã bị Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện trở thành công dân tốt, mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, điều này thể hiện thái độ coi thường pháp luật. HĐXX phúc thẩm xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt 07 tháng tù đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ, phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

. Về án phí: Bị cáo là người khuyết tật, nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, HĐXX không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn A, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2026/HS-ST ngày 20/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Thái Nguyên.

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, q và s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 07 (B) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Bị cáo Nguyễn Tuấn A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ