- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn nuôi con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Chế Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 08 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 09 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2026/HNGĐ-ST Ngày 05/3/2026 “V/v tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị N và anh A” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Lê Thị Tranh.
Các Hội Thẩm nhân dân: - Ông Trần Trọng Khuyến
- Ông Võ Văn Đầy
- Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Hồng Hạnh, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13 - Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Nở - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 03 năm 2026, tại Toà án nhân dân khu vực 13 - Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 366/2025/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 12 năm 2025 về việc: “Tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2026/QĐST-HN, ngày 26/01/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2026/QĐST-HN, ngày 09/02/2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Chế Thị N, sinh ngày 17/11/1981;
Địa chỉ: Ấp P, xã C, tỉnh An Giang. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Thạch A, sinh 19/3/1990;
Địa chỉ: Ấp L, xã L, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các bản khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Chế Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2019 chị và anh A quen nhau và tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn theo quy định, thời gian chung sống chị và anh A có 02 con chung tên Thạch Bình A1, sinh ngày 06/5/2020 và Thạch Thị Ngọc L, sinh ngày 25/7/2021, thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc thời gian gần đây do anh Thạch A không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con, anh A thường hay uống rượu dẫn đến vợ chồng cải nhau hôn nhân không hạnh ly thân 05 năm nay tình cảm vợ chồng không còn. Nay chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Thạch A.
Về con chung tên: Thạch Bình A1, sinh ngày 06/5/2020 và Thạch Thị Ngọc L, sinh ngày 25/7/2021 chị N đang nuôi, chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi và không yêu cầu anh Thạch A cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án chị N không tranh chấp, không khởi kiện, không đặt ra yêu cầu giải quyết.
Về số nợ phải thu, phải trả: Chị N không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa bị đơn anh Thạch A vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên không có lời trình bày.
Lời phát biểu của Kiểm sát viên:
Việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Toà án: Việc tuân thủ pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự cụ thể;
+ Về thẩm quyền thụ lý vụ án: Do bị đơn cư trú trên địa bàn khu vực 13- Vĩnh Long nên Toà án thụ lý vụ án đúng quy định tại Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con. Do đó, Toà án xác định quan hệ “Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự;
+ Về tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng: Thẩm phán xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự;
+ Về thủ tục giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải: Việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải được thực hiện đúng các Điều 205, 207, 208, 209, 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về thu thập chứng cứ: Thẩm phán tiến hành thu thập chứng cứ bằng các biện pháp xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ, lấy lời khai đương sự, nhân chứng quy định tại các Điều 97, 98, 99 Bộ luật Tố tụng dân sự;
+ Về việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng: Việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đảm bảo các Điều 175, 177, 196, 220 Bộ luật Tố tụng dân sự;
+ Thời hạn gởi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu: Thời hạn gởi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định tại Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự;
+ Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn dù được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do là chưa thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 147, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về hôn nhân: Chị Chế Thị N được ly hôn với anh Thạch A.
- Về con chung: Giao con chung tên Thạch Bình A1, sinh ngày 06/5/2020 và Thạch Thị Ngọc L, sinh ngày 25/7/2021 cho chị N được tiếp tục nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con do đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị N phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Xét thấy bị đơn anh Thạch A có nơi cư trú trên địa bàn xã L, tỉnh Vĩnh Long nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Vĩnh Long theo quy định tại Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét đơn của chị N khởi kiện xin ly hôn với anh Thạch A và yêu cầu được nuôi con nên xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy chị N và anh Thạch A chung sống với nhau năm 2019 có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Căn cứ vào các Điều 08 và Điều 09 Luật hôn nhân và gia đình thì hôn nhân giữa chị N và anh Thạch A là hợp pháp.
Xét thấy quá trình chung sống giữa chị N và anh Thạch A tuy chưa thống nhất nhau về quan điểm đời sống vợ chồng, lối sống, về cách ứng xử giao tiếp thì anh chị phải biết tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với cuộc sống hiện tại, cùng nhau góp ý xây dựng, chia sẽ và tôn trọng lẫn nhau để tìm cách giải quyết mọi vấn đề một cách êm đẹp nhất nhằm bảo vệ hạnh phúc gia đình. Khi mâu thuẫn phát sinh chị N và anh A đều bỏ mặt cho hậu quả xảy ra, không còn quan tâm đến tình nghĩa vợ chồng, anh chị luôn bất hòa với nhau về mọi mặt, từ khi ly thân 05 năm nay anh chị cũng không quan tâm đến hạnh phúc gia đình mạnh ai nấy sống làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng rạng nứt. Toà án hoà giải 02 lần để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng phía anh A không đến, tại phiên toà hôm nay anh A vắng mặt lần thứ hai không có lý do từ đó cho thấy khả năng hàn gắn đoàn tụ vợ chồng là không có kết quả.
Tại phiên tòa hôm nay chị N vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt chị vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề ngày 12/12/2025 chị xin được ly hôn với anh A là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu đơn khởi kiện của chị N, xử cho chị N và anh A được ly hôn với nhau.
- Về nuôi con tên: Thạch Bình A1, sinh ngày 06/5/2020 và Thạch Thị Ngọc L, sinh ngày 25/7/2021 là con chung của chị N và anh A, trong thời gian vợ chồng ly thân đến nay con chung B và Ngọc L sống chung với chị N được chị N nuôi dưỡng chăm sóc chu đáo về mọi mặt, quá trình giải quyết chị N yêu cầu được nuôi con B và Ngọc L là phù hợp, để con chung B và Ngọc L có cuộc sống ổn định về thể chất, trí tuệ, đạo đức và tinh thần, Hội đồng xét xử giao con chung Thạch Bình A1, sinh ngày 06/5/2020 và Thạch Thị Ngọc L, sinh ngày 25/7/2021 cho chị N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay chị N không khởi kiện, không tranh chấp, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về số nợ phải thu, phải trả: Chị N không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Chị Chế Thị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 01 Điều 28, 35, 39, Điều 147, 227, 228, 235, 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Chế Thị N.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Chế Thị N và anh Thạch A được ly hôn với nhau.
- Về nuôi con: Chị Chế Thị N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con tên Thạch Bình A1, sinh ngày 06/5/2020 và Thạch Thị Ngọc L, sinh ngày 25/7/2021 sau khi ly hôn.
Anh Thạch A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án chị N không khởi kiện, không tranh chấp, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về số nợ phải thu, phải trả: Chị N không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Chế Thị N có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số: 0011952, ngày 12/12/2025 do chị N nộp cho Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long thu. Chị Chế Thị N đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND khu vực 13-Vĩnh Long; - THADS tỉnh Vĩnh Long; - Các đương sự; - UBND xã Chợ Mới, tỉnh An Giang; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Thị Tranh |