vanban.org

Bản án 32/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Phạm Thái D.

[1] Về quan hệ hôn nhân: anh Phạm Thái D đƣợc ly hôn chị Nguyễn Nhƣ B. [2] Con chung: Giao cho chị Nguyễn Nhƣ B đƣợc quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục 01 con chung tên là Nguyễn Đặng Nhật D1, sinh ngày 06/04/2021 cho đến khi con đủ 18 tuổi và trƣởng thành. Tạm hoãn việc cấp d…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thái D - Nguyễn Như B"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Phạm Thái D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1-NGHỆ AN
Bản án số: 32/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 09-02-2026
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

NHÂN DANH NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Quốc Đấu

Ông Nguyễn Công Thẩm

- Thƣ ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Thƣ ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham gia phiên toà. Ngày 09 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 451/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2025 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 29/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2026, giữa các đƣơng sự: Nguyên đơn: Anh Phạm Thái D, sinh năm 1997 Vắng mặt Số định danh cá nhân xxxxxxxxxxxx Số hộ chiếu xxxxxxxxx do Đ1 tại X cấp ngày 13/02/2025. Nơi ĐKTT trƣớc khi xuất cảnh: Xóm 1, (xã H, huyện H cũ) nay là xã H, tỉnh Nghệ An. Địa chỉ hiện nay: K, Cộng hòa X-V-Kia. Bị đơn: Chị Nguyễn Nhƣ B, sinh năm 1998

Vắng mặt CCCD số xxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát cấp ngày 09/4/2024

Hộ chiếu số: xxxxxxxx do Cục Q cấp ngày 09/10/2018. Nơi ĐKTT trƣớc khi xuất cảnh: Khối 3, (xã H cũ), nay là phƣờng T, tỉnh Nghệ An.

Địa chỉ trƣớc khi sang Cộng hòa liên bang Đ2: Koreszkova 900/33 Skalica, Cộng hòa X-V-Kia.

Địa chỉ hiện nay: I, 24143 K, Cộng hòa liên bang Đ. NỘI DUNG VỤ ÁN: Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai (có chứng thực của Đ1 tại X -V -K), anh Phạm Thái D trình bày: Về tình cảm: Anh và chị Nguyễn Nhƣ B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cƣới theo phong tục truyền thống và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H (nay là xã H), tỉnh Nghệ An theo giấy đăng ký kết hôn số 36 ngày 06 tháng 12 năm 2017. Sau khi kết hôn xong anh Phạm Thái D đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa X-V-Kia còn chị Nguyễn Nhƣ B sống tại Việt Nam. Năm 2019 chị B cũng xuất khẩu lao động tại X-V-K. Tại đây anh chị sống cùng nhau và sinh đƣợc 01 ngƣời con chung là cháu Nguyễn Đặng Nhật D1. Thời gian đầu kết hôn, hai vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc. Sau này, phát sinh nhiều mâu thuẫn căng thẳng không thể hòa hợp và anh D cũng phát hiện ra giới tính thật của mình nên hai vợ chồng có sự trái lệch nhau về quan điểm giới tính. Mặc dù ở cùng nhau nhƣng hai ngƣời không còn tình cảm, không nói chuyện, không có quan hệ vợ chồng. Vì có sự cách biệt quá lớn về giới tính nên hôn nhân không hạnh phúc, chỉ là sự gƣợng ép và mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Để sớm giải phóng cho nhau nên anh Phạm Thái D xin đƣợc ly hôn với chị Nguyễn Nhƣ B để hai bên sớm ổn định cuộc sống. Về con chung: Anh D và chị B có một con chung tên là Nguyễn Đặng Nhật D1, sinh ngày 06/04/2021. Hiện nay, con đang sống cùng vợ chồng tại X-V-K. Nay ly hôn anh D đề nghị Tòa án giao con chung là cháu Nguyễn Đặng Nhật D1 cho chị Nguyễn Nhƣ B chăm sóc nuôi dƣỡng và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dƣỡng cho anh D. Về tài sản và nợ chung của vợ chồng: Anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay, do anh D đang sống và làm việc tại nƣớc ngoài không thể về Việt Nam tham gia giải quyết vụ án nên anh D đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh. Về phía chị Nguyễn Nhƣ B đã có bản tự khai (có chứng thực của Đ1 tại X -V -K) gửi về trình bày: Về tình cảm: Chị B và anh Phạm Thái D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cƣới theo phong tục truyền thống và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H (nay là xã H), tỉnh Nghệ An theo giấy đăng ký kết hôn số 36 ngày 06 tháng 12 năm 2017. Sau khi kết hôn xong chị B ở Việt Nam còn anh Phạm Thái D đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa X-V-K. Năm 2019 chị B cũng xuất khẩu lao động tại X-V-K. Tại đây anh chị sống cùng nhau và sinh đƣợc 01 con chung là cháu Nguyễn Đặng Nhật D1. Thời gian đầu kết hôn, hai vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc. Sau này, do sinh con có nhiều mâu thuẫn nên vợ chồng thƣờng xuyên cãi vã và chị B cũng phát hiện ra anh D mang giới tính khác. Do phát hiện đƣợc giới tính thật của anh D nên hai vợ chồng có sự trái lệch về quan điểm giới tính nên anh D, chị B ly thân. Ngày 20/11/2025 chị B và cháu Nguyễn Đặng Nhật D1 đã chuyển sang CHLB Đ để sinh sống và vợ chồng sống ly thân. Vì có sự cách biệt quá lớn về giới tính nên hôn nhân không hạnh phúc, chị B đồng ý ly hôn với anh Phạm Thái D để hai bên sớm ổn định cuộc sống. Về con chung: chị B và anh D có một con chung tên là Nguyễn Đặng Nhật D1 sinh ngày 06/04/2021, hiện nay con đang sống cùng chị B tại CHLB Đ. Nay ly hôn chị B xin đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung không yêu cầu anh D cấp dƣỡng tiền nuôi con. Về tài sản và nợ chung của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay, do chị B đang sống và làm việc tại nƣớc ngoài không thể về Việt Nam tham gia giải quyết vụ án nên chị đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định: [1]. Về thủ tục tố tụng: [1.1]. Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung, nợ chung và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trƣờng hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại Khoản 2, Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. [1.2]. Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân và gia đình, bị đơn chị Nguyễn Nhƣ B có nơi đăng ký thƣờng trú tại phƣờng T, tỉnh nghệ An hiện nay đang ở Cộng hòa liên bang Đ. Theo quy định tại Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 28 của BLTTDS; điểm b, khoản 1 điều 5 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán TANDTC về hƣớng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân và điều 35 của Luật số 85/2025/QH15 về sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Nghệ An.

- Về thủ tục hòa giải và sự vắng mặt của các đƣơng sự: Vụ án không tiến hành hòa giải đƣợc vì bị đơn anh Phạm Thái D và nguyên đơn chị Nguyễn Nhƣ B đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt vì hiện tại đang ở nƣớc ngoài. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đƣơng sự. [2]. Về nội dung: [2.1.]. Quan hệ hôn nhân: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, nhận thấy, anh Phạm Thái D và chị Nguyễn Nhƣ B kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, chị B ở Việt Nam còn anh Phạm Thái D đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa X - V - K. Năm 2019 chị B cũng xuất khẩu lao động tại X-V - K. Tại đây anh chị sống cùng nhau và sinh đƣợc 01 con chung tên là Nguyễn Đặng Nhật D1. Thời gian đầu kết hôn, hai vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc. Sau này, do có nhiều mâu thuẫn nên vợ chồng thƣờng xuyên căng thẳng và anh D phát hiện ra giới tính khác. Do phát hiện đƣợc giới tính thật của anh D nên hai vợ chồng có sự trái lệch về quan điểm giới tính nên anh D, chị B ly thân. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa anh Phạm Thái D và chị Nguyễn Nhƣ B không còn nữa, mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng và không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Hiện nay, chị B và con chung đã chuyển qua Công hòa liên bang Đ để sinh sống, hai vợ chồng sống chung ly thân. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Phạm Thái D. [2.2.] Về con chung: Anh D và chị B có một con chung tên là Nguyễn Đặng Nhật D1 sinh ngày 06/04/2021. Hiện nay, cháu đang sống cùng chị B. Anh D, chị B đều có nguyện vọng giao con chung cho chị B trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng đến tuổi trƣởng thành. Vì vậy, căn cứ vào Điều 81 luật hôn nhân và gia đình, giao con chung cho chị Nguyễn Nhƣ B tiếp tục nuôi dƣỡng. Tạm hoãn việc cấp dƣỡng nuôi con cho anh D do chị B không yêu cầu. Anh D có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. [2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Anh D và chị B đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên hội đồng xét xử miễn xét. [3]. Về án phí: Anh Phạm Thái D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật. [4]. Về quyền kháng cáo: Các đƣơng sự có quyền kháng cáo theo quy đinh pháp luật. Vì các lẽ trên; QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình 2014; Điều 28; Điều 40; Điều 147; Điều 273; Điều 469; Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; điểm b, khoản 1 điều 5 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán TANDTC về hƣớng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân; điều 35 của Luật số 85/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Phạm Thái D.

[1] Về quan hệ hôn nhân: anh Phạm Thái D đƣợc ly hôn chị Nguyễn Nhƣ B.

[2] Con chung: Giao cho chị Nguyễn Nhƣ B đƣợc quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục 01 con chung tên là Nguyễn Đặng Nhật D1, sinh ngày 06/04/2021 cho đến khi con đủ 18 tuổi và trƣởng thành. Tạm hoãn việc cấp dƣỡng tiền nuôi con cho anh Phạm Thái D do chị Nguyễn Nhƣ B không yêu cầu. Anh Phạm Thái D có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.

Chị Nguyễn Nhƣ B cùng các thành viên gia đình không đƣợc cản trở anh Phạm Thái D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con.

Trong trƣờng hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con. Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu đƣợc thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[3]. Về tài sản chung và nợ: anh Phạm Thái D và chị Nguyễn Nhƣ B đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

[4] Án phí sơ thẩm: anh Phạm Thái D phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí sơ thẩm nhƣng đƣợc trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003277 ngày 28/11/2025 của cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh N, anh Phạm Thái D đã nộp xong tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

[5] Quyền kháng cáo: Anh Phạm Thái D và chị Nguyễn Nhƣ B đang cƣ trú ở nƣớc ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án sơ thẩm đƣợc tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án đƣợc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ