vanban.org

Bản án 32/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Phan Trần H D được ly hôn với ông Hồ Quang V.

Về con chung: Giao con chung tên Hồ Phan K H, sinh ngày 02/8/2020 cho bà Phan Trần H D tiếp tục nuôi dưỡng; Không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Ông Hồ Quang V không trực tiếp nuôi con có quyền lui tới, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Về tài sản chung và nợ chung: … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Trần H D - Hồ Q V"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Phan Trần H D được ly hôn với ông Hồ Quang V.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2026/HNGĐ-ST
Ngày 30 tháng 01 năm 2026
Về việc: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Minh Mẫn

2. Bà Đoàn Thị Bẩy

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Như là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau.

Ngày 30 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 337/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2025 về việc: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2526/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phan Trần HD, sinh năm 1989; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: Số 40 đường N, khóm 0phường L, tỉnh Cà Mau (có mặt).

Bị đơn: Ông Hồ Quang V, sinh năm 1984; Căn cước số xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: Số 126, khóm 0, phường A, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn bà Phan Trần H D trình bày:

- Về hôn nhân: Bà và ông Hồ Quang V đăng ký kết hôn vào năm 2018 tại UBND xã A, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau trên tinh thần tự nguyện. Ban đầu, cuộc sống hôn nhân khá hạnh phúc và hòa thuận. Tuy nhiên, sau một thời gian, mâu thuẫn gia đình ngày càng gia tăng, dẫn đến không còn tiếng nói chung. Hai vợ chồng có quan điểm sống không phù hợp nên phát sinh mâu thuẫn trong sinh hoạt gia đình, trong bàn bạc kinh tế, trong nuôi dạy con cái. Bà đã nhiều lần cố gắng giải thích, phân tích lợi hại cho chồng nghe nhưng ông V không lắng nghe và chỉ làm theo ý mình dẫn đến những lời góp ý của bà không có hiệu quả, mâu thuẫn gia đình trầm trọng, hạnh phúc hôn nhân không đạt được. Thu nhập của ông Vinh hàng tháng không dưới 15 triệu đồng nhưng không có trách nhiệm với gia đình, không đưa tiền cho vợ nuôi con. Khi con chung được khoảng ba tuổi, mâu thuẫn trở nên nghiêm trọng và vợ chồng sống ly thân đến hôm nay. Thu nhập của chồng cao hơn nhưng con bà tự nuôi, mọi chi phí phát sinh bà tự lo liệu. Nay bà gửi đơn yêu cầu được ly hôn với ông Hồ Quang V.

- Về con chung: Có 01 người con chung tên Hồ Phan K H, sinh ngày 02/8/2020, hiện đang sống cùng với mẹ. Khi ly hôn, bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa xem xét.

Tại phiên toà, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hôn nhân: Bà Phan Trần H D và ông Hồ Quang V kết hôn với nhau vào năm 2018, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (Nay là UBND phường An Xuyên, tỉnh Cà Mau). Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông V được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp và bảo vệ.

Bà D cho rằng thời gian đầu sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hạnh phúc, hoà thuận, nhưng sau một thời gian chung sống mâu thuẫn phát sinh do bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn về vấn đề kinh tế, cách nuôi dạy con, ông Vinh không có trách nhiệm với vợ con, mọi chi phí phát sinh trong gia đình do bà tự lo liệu. Mặc dù bà đã cố gắng bàn bạc, góp ý, tìm tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình nhưng không đạt được, do ông Vinh không lắng nghe, mẫu thuẫn kéo dài không hàn gắn được, vợ chồng đã ly thân từ năm 2023 cho đến nay, tình cảm không còn nên bà cương quyết xin ly hôn với ông V. Đối với ông V không có ý kiến phản hồi gửi Toà án, do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của bà D được ly hôn với ông V.

Về con chung: Có 01 người con chung tên Hồ Phan K H, sinh ngày 02/8/2020, hiện đang sống cùng với mẹ. Thấy rằng, từ khi bà Dĩu và ông Vinh ly thân với nhau cho đến nay, con chung vẫn do bà D trực tiếp nuôi dưỡng, đã ổn định về cuộc sống. Do đó, cần giao con chung cho bà Dĩu tiếp tục nuôi dưỡng, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Ông V không trực tiếp nuôi con có quyền lui tới, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà D xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung; Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Phan Trần H D được ly hôn với ông Hồ Quang V.

2. Về con chung: Giao con chung tên Hồ Phan K H, sinh ngày 02/8/2020 cho bà Phan Trần H D tiếp tục nuôi dưỡng; Không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Ông Hồ Quang V không trực tiếp nuôi con có quyền lui tới, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm: Bà Phan Trần H D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình 300.000 đồng. Ngày 07/11/2025 bà Dĩu đã nộp tạm ứng 300.000 đồng theo biên lai số 0004178 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm, nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định.

Cỡ chữ