vanban.org

Bản án 32/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bản án"
  • Căn cứ chính? Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật tố tụng hành chính; Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2026/DS-ST
Ngày: 26-02-2026
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Nhàn.

2. Ông Nguyễn Minh Đầy.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Minh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Hữu Thọ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 01 và ngày 26 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 367/2025/TLST-DS ngày 17 tháng 11 năm 2025, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2026/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 01 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2026/QĐST-DS ngày 30 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty T.

Địa chỉ trụ sở: Số 91 Pasteur, phường Sài Gòn, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Thị L Anh, sinh năm: 2000; Địa chỉ liên hệ: Phòng 401, Tầng 4, Tòa nhà số 793/49/1 Trần Xuân Soạn, phường Tân Hưng, thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền ngày 01/8/2025).

- Bị đơn: Anh Trương Văn Q, sinh năm 1993.

Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx.

Địa chỉ: Số 123, khóm Đông Huề, phường Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

Chị L Anh có đơn xin vắng mặt và anh Q vắng mặt tại phiên tòa (không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn công ty Mirae Asset là chị Nguyễn Thị L Anh trình bày:

Ngày 20/6/2023 công ty Mirae Asset ký đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4704288 về việc cấp tín dụng cho anh Trương Văn Q, số tiền 38.772.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng Công ty đã giải ngân cho anh Q vào ngày 21/6/2023 theo hợp đồng tín dụng, thời hạn vay từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến 15/6/2026, lãi suất 52%/năm, vay không thế chấp tài sản, mục đích vay tiêu dùng. Phương thức thanh toán theo kỳ vào ngày 15 tây hàng tháng, mỗi kỳ 2.176.520 đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng anh Q trả cho Công ty được 18 kỳ, số tiền 40.422.204 đồng (vốn 12.363.136 đồng, lãi 27.709.879 đồng và phí thu hộ 216.000 đồng, lãi chậm trả 133.189 đồng), anh Q đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 07/02/2024 đến nay. Hiện anh Q còn nợ vốn 26.408.864 đồng và lãi suất tạm tính đến ngày 05/8/2025 là 9.009.922 đồng (lãi trong hạn 7.114.517 đồng, lãi quá hạn 1.665.968 đồng, lãi chậm trả 229.437 đồng). Tổng cộng 35.418.786 đồng.

Nay Công ty Mirae Asset yêu cầu anh Q trả số tiền gốc và lãi 35.418.786 đồng (gốc 26.408.864 đồng và lãi suất 9.009.922 đồng); Yêu cầu anh Q tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 06/8/2025 đến khi anh Q trả hết nợ cho Công ty.

Ngoài ra, không có yêu cầu nào khác.

Bị đơn anh Trương Văn Q: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ (niêm yết công khai) các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và các thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho anh Trương Văn Q nhưng anh Q không có văn bản nêu ý kiến, không đến Tòa án để làm việc và tại phiên hòa giải, phiên tòa vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Đồng Tháp phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quy định pháp luật vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Buộc anh Trương Văn Q trả số tiền gốc và lãi 35.418.786 đồng (gốc 26.408.864 đồng và lãi suất 9.009.922 đồng) và anh Q tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 06/8/2025 theo mức lãi hợp đồng tín dụng đến khi anh Q trả hết nợ cho Công ty.

Về án phí giải quyết theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 3, Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại phường Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Khu vực 8, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2, Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án của Quốc Hội.

Tại phiên toà bị đơn anh Trương Văn Q vắng mặt không có lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.

. Về nội dung tranh chấp:

Xét Hợp đồng tín dụng số 4704288 ngày 20/6/2023 thể hiện anh Q có vay của Công ty tài chính TNHH một thành viên MIRAE ASSET (Việt Nam) số tiền là 38.772.000 đồng, thời hạn vay từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến 15/6/2026, lãi suất 52%/năm, mục đích vay tiêu dùng, không tài sản bảo đảm; trả vốn vay, lãi vay và phí theo kỳ hàng số tiền 2.176.520 đồng. Công ty đã giải ngân số tiền vay 36.000.000 đồng cho anh Q theo Phiếu báo nợ ngày 21/6/2023 của Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam và chuyển phí bảo hiểm 2.772.000 đồng cho Công ty cổ phần bảo hiểm Opes.

Hội đồng xét xử nhận thấy hợp đồng tín dụng do Công ty tài chính TNHH một thành viên MIRAE ASSET (Việt Nam) và anh Trương Văn Q tự nguyện thỏa thuận, xác lập, nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các Điều 117, 119 của Bộ luật dân sự và các Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng; nên có hiệu lực, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, anh Q thanh toán cho Công ty được 18 kỳ, số tiền 40.422.204 đồng (trong đó, vốn 12.363.136 đồng, lãi 27.709.879 đồng và phí thu hộ 216.000 đồng, lãi chậm trả 133.189 đồng). Từ ngày 07/02/2024 anh Q không tiếp tục trả khoản tiền nào cho Công ty là vi phạm nghĩa vụ trả nợ vốn, lãi theo hợp đồng đã ký kết.

Bị đơn anh Trương Văn Q mặc dù đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ (niêm yết công khai) các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp, giao nộp cho Tòa án bất cứ tài liệu, chứng cứ có liên quan để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình và vắng mặt tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.

Từ những phân tích trên, xét yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH một thành viên MIRAE ASSET (Việt Nam) yêu cầu anh Trương Văn Q phải thanh toán cho Công ty số tiền gốc và lãi tính đến ngày 05/8/2025 là 35.418.786 đồng (gốc 26.408.864 đồng và lãi suất 9.009.922 đồng); Yêu cầu anh Q tiếp tục trả tiền lãi, lãi quá hạn, các loại phí từ ngày 06/8/2025 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 4704288 ngày 20/6/2023 là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Q phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của Công ty là 35.418.786 đồng x 5% = 1.771.000đồng.

Đối với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử thống nhất.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 227, 228, 238, 264, 271, 273, 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2, Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án của Quốc Hội.

- Căn cứ các Điều 117, 119, 280 của Bộ luật dân sự;

- Căn cứ các Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;

- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH một thành viên MIRAE ASSET (Việt Nam).

2. Buộc anh Trương Văn Q phải trả cho Công ty tài chính TNHH một thành viên MIRAE ASSET (Việt Nam) tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 05/8/2025 là 35.418.786 đồng (Ba mươi lăm triệu, bốn trăm mười tám ngàn, bảy trăm tám mươi sáu đồng). Trong đó nợ gốc: 26.408.864 đồng và lãi suất 9.009.922 đồng và tiếp tục phải thanh toán tiền lãi, lãi quá hạn, các loại phí từ ngày 06/8/2025 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 4704288 ngày 20/6/2023.

3. Án phí dân sự sơ thẩm:

Anh Trương Văn Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.771.000 đồng.

Hoàn trả cho Công ty tài chính TNHH một thành viên MIRAE ASSET (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí đã nộp 885.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0007647 ngày 11/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ