vanban.org

Bản án 32/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ngô Quang V phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Hình phạt: Trách nhiệm dân sự: Việc bồi thường thiệt hại đã thực hiện xong, HĐXX không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Quang V phạm tội "Cố ý gây thương tích".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HS-ST
Ngày 29-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Yên;

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Khuất Thị Thanh;

Bà Triệu Thị Liên;

- Thư ký phiên tòa: Ông Linh Đức Minh – Thư ký viên, Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tại trụ sở phòng xét xử Hình sự, Tòa án nhân Khu vực 4 - Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Ngô Quang V (tên gọi khác: Không), sinh ngày ... tháng ... năm ..., tại tỉnh T; nơi cư trú: Số nhà ..., đường T, tổ dân phố 4 T1, phường H, tỉnh T2; căn cước công dân số: 00..., do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an cấp ngày .../.../...; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Chí L, sinh năm 1... và bà Dương Thị T3, sinh năm 1... (đã chết); vợ, con: Không có; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Ngày 07/5/2010, bị Tòa án nhân dân thị xã Hà Giang xử 30 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Bản án số 05/201/HSST (Đã được xóa án tích);

- Ngày 04/01/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Giang xử 18 tháng tù giam về tội Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo Bản án số 01/2013/HSST (Đã được xóa án tích);

- Ngày 12/11/2014, bị Công an thành phố Hà Giang xử lý vi phạm hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng (Đã được xóa tiền sự);

- Ngày 03/01/2015, bị Công an thành phố Hà Giang xử lý vi phạm hành chính về hành vi Xâm hại sức khỏe người khác (Đã được xóa tiền sự);

- Ngày 26/9/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Giang xử 26 tháng tù giam về tội Gây rối trật tự công cộng và 24 tháng tù giam về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản Bản án số 28/2016/HSST (Đã được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/9/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 - Công an tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

- Bị hại: Anh Đỗ Hiệp A (tên gọi khác: H1), sinh năm 2003; nơi thường trú: Thôn C, xã B, tỉnh T2. Nơi ở hiện nay: Số nhà …, đường N, tổ …, phường H2, tỉnh T2 (Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Tuyên Quang trong một vụ án khác). Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Phạm Thị Hồng T4, sinh năm …; địa chỉ: Số nhà …, đường …, tổ …, phường H2, tỉnh T2. Xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng: Nông Mạnh T5, có mặt; Giàng Minh L1, Phạm Thị Thu U, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 18/8/2025, Ngô Quang Vđi một mình đến quán “Lê La quán” tại Số nhà 36, đường 19/5, thuộc tổ 14, phường Hà Giang 1, tỉnh Tuyên Quang với mục đích để ăn đêm, uống bia cùng bạn. Khi đến nơi, V vào quán ngồi ăn và uống bia cùng với Lê Việt C1, Phạm Thị Thu U và 05 người (gồm 01 nam và 04 nữ, không xác minh được họ tên, địa chỉ, do là bạn mới quen trên mạng xã hội của C1 và U). Quá trình ngồi ăn và uống bia, V cùng nhóm bạn ngồi tại bàn số 2 từ trong ra, gần quầy thu ngân ở dãy bàn bên phải tính theo hướng từ cửa quán vào. Đến khoảng 03 giờ cùng ngày, Đỗ Hiệp A cùng Nông Mạnh T5 đến quán “Lê La quán” để ăn đêm. Khi đến quán, do có quen biết từ trước với V, nên Hiệp A có đến gần bàn của V chào hỏi V và mọi người trong bàn. Sau đó Hiệp A đi về bàn ngồi ăn và uống bia với T5 tại bàn số 1 từ trong ra, dãy bàn bên trái tính theo hướng từ cửa quán vào, Hiệp A ngồi quay lưng với bàn của V, T5 ngồi đối diện với Hiệp A. Khoảng 20 phút sau, nghe thấy tiếng Hiệp A nói chuyện to, nghĩ là Hiệp A chửi mình nên V cầm theo chiếc ống điếu hút thuốc lào hình trụ tròn đi đến vị trí sau lưng của Hiệp A, lúc này Hiệp A và T5 vẫn đang ngồi ăn, khi đi đến cách Hiệp A 0,7 mét phía sau bên phải của Hiệp A, V dùng hai tay cầm chiếc ống điếu vung lên cao trên vai phải rồi vụt liên tiếp 02 phát theo chiều hướng từ trên xuống dưới, chếch từ phải sang trái trúng vào vùng gò má bên phải của Hiệp A. Bị đánh bất ngờ, Hiệp A ôm mặt bỏ chạy về hướng quầy thu ngân của quán và hỏi “Sao anh đánh em?”, V tiếp tục cầm ống điếu chỉ về phía Hiệp A và chửi bới. Sau đó được mọi người tại quán can ngăn, V vứt chiếc ống điếu xuống đất tại vị trí trước cửa quán và được D (là bạn xã hội của Lê Việt C1, không xác định được họ tên, địa chỉ) đưa về nhà. Sau khi V đi, Hiệp A đã nhờ người gọi điện báo cho Công an phường Hà Giang 1, tỉnh Tuyên Quang đến làm việc.

-2-

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 27A/KLTTCT-TTGĐYK&PY, ngày 04/9/2025 của Trung tâm giám định y khoa và pháp y tỉnh Tuyên Quang, đối với thương tích của Đỗ Hiệp A, kết luận:

“1. Các kết quả chính (kết quả khám giám định và cận lâm sàng):

+ Vỡ xoang hàm phải: 07%;

+ Gãy cung tiếp xương gò má phải: 08%.

2. Kết luận:

- Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Hiệp A tại thời điểm giám định là: 14% (mười bốn phần trăm) theo phương pháp cộng tại thông tư.

- Cơ chế, vật gây thương tích: Thương tích gãy vỡ xoang hàm phải, gãy cung tiếp xương gò má phải do vật tày tác động trực tiếp gây nên”.

Tại bản Kết luận giám định số 28A/KLTTCT-TTGĐYK&PY, ngày 5/9/2025 của Trung tâm giám định y khoa và pháp y tỉnh Tuyên Quang, kết luận: “Căn cứ vào kết quả khám giám định vật gây thương tích được Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Tuyên Quang trưng cầu giám định gửi đến là 01 ống điếu bằng tre, phù hợp với các đặc điểm tổn thương, xác định ống điếu dạng thân cây tre có khả năng tác động gây ra các tổn thương bầm tím, xây xước da vùng gò má bên phải của ông Đỗ Hiệp A đã được ghi nhận trong hồ sơ bệnh án, biên bản xem xét dấu vết trên thân thể”.

Kết quả xác định hiện trường: Kết quả xác định hiện trường của bị cáo và bị hại đều phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, lời khai nhận tội của bị cáo, lời khai của bị hại, lời khai những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Kết quả thực nghiệm điều tra: Bị cáo Ngô Quang V đã mô tả và thực hiện lại toàn bộ vị trí, động tác, tư thế, chiều hướng, cường độ lực tấn công, hành vi phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả xác định hiện trường, kết quả giám định thương tích. Kết quả cho bị cáo và bị hại tiến hành thực nghiệm điều tra đều phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng thu giữ thu giữ: 01 chiếc ống điếu hình trụ tròn dài 65cm, chất liệu bằng tre, màu vàng, đường kính miệng 06cm, độ dày thành ống điếu là 0,6cm, khối lượng 0,7 kg (cân tịnh khi không có nước bên trong ống điếu);

Về phần dân sự: Bị cáo Ngô Quang V đã bồi thường tiền chi phí viện phí, thiệt hại sức khỏe cho bị hại Đỗ Hiệp A với tổng số tiền là 50.000.000 đồng. Bị hại Đỗ Hiệp A không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm bất kỳ khoản chi phí nào.

-3-

Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKSKV4 ngày 28/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Tuyên Quang truy tố bị cáo Ngô Quang V về tội "Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Tuyên Quang, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo Ngô Quang V phạm tội Cố ý gây thương tích

Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam ngày 23/9/2025.

Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị tịch thu và tiêu hủy: 01 chiếc ống điếu hình trụ tròn dài 65cm, chất liệu bằng tre, màu vàng, đường kính miệng 06cm, độ dày thành ống điếu là 0,6cm, khối lượng 0,7 kg (cân tịnh khi không có nước bên trong ống điếu).

Về trách nhiệm dân sự: Không.

Án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS năm 2015, Nghị quyết 326/2016-UBTVQH ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Ngô Quang V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định (Là 200.000đ).

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên, xin được giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại Đỗ Hiệp A đã nhận 50.000.000 đồng tiền bồi thường, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Chị Phạm Thị Hồng T4 không có ý kiến gì, không lấy lại chiếc ống điếu.

Lời khai của người làm chứng phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại.

Lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn hối cải, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 4 –Tuyên Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp..

Bị hại vắng mặt, việc bồi thường thiệt hại đã thực hiện xong và không có yêu cầu gì thêm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt, không có yêu cầu gì thêm; những người làm chứng vắng mặt nhưng đã có đầy đủ lời khai trong quá trình điều tra và được lưu trong hồ sơ vụ án nên việc

-4-

vắng mặt của những người này không ảnh hưởng tới việc giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thảo luận và tiếp tục xét xử vụ án.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Ngô Quang V tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường; Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 27A/KLTTCT-TTGĐYK&PY, ngày 04/9/2025 đối với thương tích của Đỗ Hiệp Anh, Kết luận giám định số 28A/KLTTCT-TTGĐYK&PY, ngày 5/9/2025 của Trung tâm Giám định Y khoa và Pháp y tỉnh Tuyên Quang; Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ xác định: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 18/8/2025, tại quán “Lê La quán”, địa chỉ: số nhà 36, đường 19/5, tổ 14, phường Hà Giang 1, tỉnh Tuyên Quang, bị cáo Ngô Quang V thấy bị hại Đỗ Hiệp A nói to, cởi trần, có hình xăm nên cảm thấy bực tức, đã vô cớ dùng hung khí nguy hiểm là 01 chiếc ống điếu bằng tre vụt liên tiếp 02 phát vào vùng gò mà bên phải của bị hại Đỗ Hiệp A. Hậu quả gây thương tích cho bị hại Đỗ Hiệp A với tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 14% (Mười bốn phần trăm). Như vậy đủ cơ sở xác định bị cáo Ngô Quang V phạm Cố ý gây thương tích quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), có khung hình phạt bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm.

Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Tuyên Quang truy tố bị cáo Ngô Quang V về tội Cố ý gây thương tích quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi, nhưng bị cáo đã coi thường pháp luật, bị cáo đã vô cớ dùng ống điếu tre gây thương tích nghiêm trọng cho bị hại, lỗi cố ý trực tiếp.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử lý hình sự, xử phạt hành chính nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện sự côn đồ, sẵn sàng dùng vũ lực để gây thương tích cho người khác. Cần có một mức án thật nghiêm khắc, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả), được hưởng tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 BLHS (trong quá trình điều tra bị hại đã xin không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo).

-5-

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã thỏa thuận và bồi thường xong cho bị hại số tiền 50.000.000 đồng, bị hại nhất trí và không yêu cầu gì thêm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có đề nghị gì, HĐXX không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc ống điếu là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội là tài sản của chị Phạm Thị Hồng T4. Chị T4 có ý kiến không yêu cầu bị cáo V phải bồi thường và không nhận lại tài sản này. HĐXX xét thấy vật chứng này không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo không thuộc trường hợp được miễn án phí nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tội danh:

Tuyên bố bị cáo Ngô Quang V phạm tội "Cố ý gây thương tích".

2. Hình phạt:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 50; Điều 38; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017): Xử phạt bị cáo Ngô Quang V 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 23/9/2025).

Áp dụng điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tạm giam bị cáo Ngô Quang V với thời hạn là 45 (bốn mươi lăm ngày) kể từ ngày tuyên án.

3. Trách nhiệm dân sự: Việc bồi thường thiệt hại đã thực hiện xong, HĐXX không xem xét.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) ống điếu hình trụ tròn dài 65cm, chất liệu bằng tre, màu vàng, đường kính miệng 06cm, độ dày thành ống điếu là 0,6cm, khối lượng 0,7 kg (cân tịnh không có nước bên trong ống điếu).

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Tuyên Quang và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4 - Tuyên Quang ngày 02/12/2025).

5. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBT VQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Ngô Quang V phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo:

-6-

Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ