- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tội danh và điều luật áp dụng: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2025/HS-ST Ngày: 29 – 12 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Đình Tiến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông (bà) Âu Cần Đông
Ông (bà) Hồ Thị Út
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Luyến – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông (bà) Phạm Thị Bích Thuận – Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại điểm cầu Trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 28/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo: Nguyễn Văn T; tên gọi khác: không có; sinh ngày: 01/01/1980; Nơi sinh: phường L, Cần Thơ. Đăng ký thường trú: Khu vực 6, phường L, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Bán vé số; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam, Tôn giáo: Công Giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H (còn sống) và bà: Nguyễn Thị H1 (còn sống); bị cáo chưa có vợ con. Tiền sự: Không có.
Tiền án: có 01: Ngày 08/04/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12, thành phố Cần Thơ) tuyên phạt 03 năm 06 tháng tù giam theo Bản số 10/2016/HSST, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng vẫn chưa chấp hành xong phần trách nhiệm dân sự theo bản án đã tuyên nên chưa được xóa án tích.
Nhân thân:
+ Ngày 11/11/2011, bị Ủy ban nhân dân tỉnh H (cũ) áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo Quyết định số 1840/QĐ-UBND đưa vào cơ sở giáo dục thời gian 18 tháng về hành vi nhiều lần trộm cắp tài sản và đánh nhau.
+ Ngày 05/5/2020, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12, thành phố Cần Thơ) xử phạt 01 năm tù về "Tội trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS theo bản án số 10/2020/HSST, bị cáo đã chấp hành xong ngày 24/02/2021 nên được xóa án tích.
Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác nên các cơ quan tố tụng không áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo trong vụ án này.
- Bị hại: Phan Xuân H2, sinh năm: 2000 (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã T, tỉnh Quảng Trị.
Nơi ở hiện nay: Khu vực Bình Thạnh B, phường L, thành phố Cần Thơ.
- Người làm chứng:
1/ Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm: 1991 (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
2/ Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1978 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Văn T làm nghề bán vé số dạo có thu nhập nhưng không ốn định, không đủ chi xài cá nhân nên bị cáo nảy sinh ý định đi tìm tài sản của người khác lén lút chiếm đoạt để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Vào khoảng 02 giờ sáng ngày 10/7/2025 bị cáo T đi ăn tại quán của bà Đoàn Ngọc T2 (địa chỉ: khu vực Bình Thạnh B, phường L, thành phố Cần Thơ) gần khu vực bến xe L, sau khi ăn xong thì bị cáo T nảy sinh ý định đi tìm tài sản để trộm cắp. Lúc này, T điều khiến xe mô tô gắn biển số 95LA - 041.72, kiểu dáng Future X màu xám - đen (xe thuộc sở hữu của T) đi từ bến xe L cũ đến ngã tư Hồ S đi thẳng đến ngã ba rẽ phải vào khu dân cư khu vực Bình Thạnh B, phường L, thành phố Cần Thơ khoảng 500m, T phát hiện ngôi nhà của ông Phan Xuân H2 (Khu vực Bình Thạnh B, phường B, thành phố Cần Thơ) thuê để ở, không đóng cửa ngoài nên bị cáo T dừng xe cách cửa nhà khoảng 02 mét, rồi xuống xe, lén lút đi vào nhà. Khi lên cầu thang đến tầng 1, đi đến phòng ngủ của ông H2 ngay phòng đầu tiên phía bên phải hướng từ cầu thang đi lên, cửa phòng chỉ khép lại (không khóa), ông H2 đang nằm ngủ trên giường bên phải theo hướng từ cửa nhìn vào và để điện thoại di động loại cảm ứng nhãn hiệu Samsung màu đen, loại Galaxy S23 Ultra, màu đen trên đầu giường. Thấy vậy, T quan sát trong phòng thấy người đã ngủ, bên ngoài không có ai nên lén lút lấy điện thoại di động trên bỏ vào túi quần jean bên trái đang mặc rồi đi khỏi phòng ra lấy xe điều khiển đi về hướng vòng xoay qua cầu L, xuống dốc cầu rẽ phải đến vòng xoay rẽ phải đi về nhà thuộc khu vực 6, phường L. Về đến nhà, T lấy điện thoại di động lén lút chiếm đoạt được bỏ vào cốp xe mô tô biển số 95LA - 041.72 rồi đi ngủ. Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 10/7/2025, bị cáo T thức dậy điều khiển xe mô tô nêu trên đi bán vé số tại khu vực phường L và phường L thì nghe được thông tin người bị hại Phan Xuân H2 đã trình báo sự việc đến cơ quan Công an, T nghĩ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của mình sẽ sớm bị phát hiện nên T tự nguyện đến cơ quan Công an phường L tự thú khai báo toàn bộ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác và tự nguyện giao nộp đến cơ quan Công an điện thoại di động đã trộm.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số: 11/KL-HĐĐGTS ngày 20/8/2025 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân thành phố C, kết luận: "Tên tài sản: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, loại Galaxy S23 Ultra, tên kiểu thiết bị: SM-S918B/DS, số seri: RSCX2117LTT, số IMEL 1: 355157586628314, số IMEL 2: 355867886628315, có lắp sim 1 số: 0914002677, sim 2: 0376149543. Hiện trạng đã qua sử dụng, trên thân và màn hình có nhiều vết trầy xước. Thời điểm định giá: Ngày 10/7/2025. Giá tài sản: 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng). "Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, bị cáo thực hiện tội phạm một mình, không có đồng phạm. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành "Tội trộm cắp tài sản", quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Ngoài vụ án này, bị cáo T còn đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C khởi tố ở 01 vụ án khác về hành vi trộm cắp tài sản đang trong quá trình điều tra chờ xử lý.
Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, loại Galaxy S23 Ultra, đã qua sử dụng.
- 01 (một) mô tô gắn biển số: 95LA - 041.72 kiểu dáng Future X màu xám-đen, số máy: JC45E-0205248, số khung: RLHJC3507AY111749, đã qua sử dụng.
* Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Phan Xuân H2 một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, loại Galaxy S23 Ultra.
Đối với xe mô tô biển số 95LA - 041.72 kiểu dáng Future X màu xám -đen đang được bảo quản tại Kho vật chứng thuộc Công an thành phố C. Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ sẽ ban hành Quyết định chuyển vật chứng đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 – Cần Thơ quản lý, bảo quản phục vụ xét xử theo đúng quy định của pháp luật.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phan Xuân H2 đã nhận lại tài sản bị mất trộm nên không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự. Tại cáo trạng số 14/CT-VKS-KV12 ngày 28 tháng 11 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự).
Luận tội của Kiểm sát viên: Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn T như nội dung cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025 và đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 01 đến 01 năm 06 tháng tù và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ý kiến người bị hại: Bị hại vắng mặt nên không có ý kiến.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà;
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Đối với bị hại ông Phan Xuân H2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm. Xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố ông Phan Xuân H2 đã cung cấp lời khai nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Phan Xuân H2 và dành quyền kháng cáo cho ông theo luật định.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và những tài liệu, chứng cứ thể hiện trong hồ sơ đã có đủ cơ sở để khẳng định:
Vào ngày 10/7/2025 tại khu vực Bình Thạnh B, phường L, thành phố Cần Thơ, bị cáo Nguyễn Văn T đã cố ý thực hiện hành vi lén lút lấy trộm tài sản là điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, loại Galaxy S23 Ultra của bị hại Phan Xuân H2 theo Kết luận định giá là 12.000.000 đồng với mục đích đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Mặc dù bản thân từng bị kết án về “Tội trộm cắp tài sản” (đã chấp hành xong án phạt tù, chưa chấp hành xong phần trách nhiệm dân sự và án phí sơ thẩm) nhưng bị cáo không biết sửa đổi, do bản tính lười lao động, mong muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã cố ý tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành “Tội trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Nên cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ truy tố bị cáo Nguyễn Văn T phạm “Tội trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T là ít nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây bất an cho quần chúng nhân dân tại địa phương. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình đã gây ra. Với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa tình hình tội phạm chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân bị cáo.
Xét về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu:
+ Ngày 11/11/2011, bị Ủy ban nhân dân tỉnh H (cũ) áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quyết định số 1840/QĐ-UBND đưa vào cơ sở giáo dục thời gian 18 tháng về hành vi nhiều lần trộm cắp tài sản và đánh nhau.
+ Ngày 05/5/2020, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 12, thành phố Cần Thơ) xử phạt 01 năm tù về “Tội trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự theo bản án số 10/2020/HSST, bị cáo đã chấp hành xong ngày 24/02/2021 nên được xóa án tích.
Về tình tiết tăng nặng: Tái phạm theo quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đến cơ quan Công an tự thú toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo có trình độ văn hóa thấp và có phần hạn chế nhận thức pháp luật. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả cho chủ sở hữu Phan Xuân H2 một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, loại Galaxy S23 Ultra xong.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 xe mô tô biển số 95LA - 041.72 kiểu dáng Future X màu xám - đen đang được bảo quản tại Kho vật chứng thuộc Công an thành phố C. Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 12 - Cần Thơ.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại ông Phan Xuân H2 đã nhận lại tài sản nhưng vắng mặt. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp giữa bị cáo Nguyễn Văn T và bị hại Phan Xuân H2 tách ra giải quyết thành vụ kiện dân sự khác.
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 106, Điều 268, Điều 269, Điều 292, Điều 293 và Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
1. Tội danh và điều luật áp dụng: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 xe mô tô biển số 95LA - 041.72 kiểu dáng Future X màu xám (xe đã qua sử dụng không rõ chất lượng).
3. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại ông Phan Xuân H2 đã nhận lại tài sản. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp giữa bị cáo Nguyễn Văn T và bị hại Phan Xuân H2 tách ra giải quyết thành vụ kiện dân sự khác.
4. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị hại ông Phan Xuân H2 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương nơi đương sự cư trú.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Cần Thơ; - VKSND thành phố Cần Thơ; - Phòng HS Công an thành phố Cần Thơ; - VP CQCSĐT Công an thành phố Cần Thơ; - VKSND khu vực 12 - Cần Thơ; - Công an thành phố Cần Thơ; - Phòng THADS khu vực 12 - Cần Thơ; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Đình Tiến |