- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo N.D.P phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động - phạm tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo N.D.P phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”. Xử phạt: Bị cáo N.D.P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”. Thời hạn thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 295 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2025/HS-ST Ngày: 27-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Dân An.
2. Bà Đỗ Thị Mỹ Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Nguyễn Thanh Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân Thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Võ Thành Thiên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 31/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
N.D.P, sinh năm: 1990 tại: tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện này: Khu phố A, phường A, thị xã A, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Xây dựng; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; con ông: N.V.T, sinh năm: 1966, còn sống và bà: N.T.D, sinh năm: 1971, còn sống; Anh, chị em ruột: Có 01 người; Vợ: Đ.T.M.T, sinh năm 1992, ngụ khu phố Long Mỹ, phường Long Thành Bắc, thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh; Con: Có 02 người, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh đén ngày 16-8-2025, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: ông L.V.B (chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Bà Võ Thị Thu, sinh năm 1965. Trú tại: Khu phố Long Thành, phường Long Thành Trung, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
2. Chị Lê Thị Nhựt, sinh năm 1984. Địa chỉ: Khu phố Long Mỹ, phường Long Thành Bắc, Thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh.
3. Chị Lê Thị Huệ, sinh năm 1989. Khu phố Long Thành, phường Long Thành Trung, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo uỷ quyền của chị Nhựt, chị Huệ: Bà Võ Thị Thu, sinh năm 1965. Trú tại: Khu phố Long Thành, phường Long Thành Trung, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh theo Giấy uỷ quyền ngày 13-5-2025 lập tại Văn phòng công chứng Ninh Thanh Hải. Bà Thu vắng mặt, có Đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 15 tháng 3 năm 2025, ông L.V.B, sinh năm 1960, ngụ khu phố Long Thành, phường Long Thành Trung, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh là công nhân của N.D.P là chủ thầu xây dựng công trình nhà ở tại ấp Long Bình, xã Long Thành Nam, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh do ông Nguyễn Ngọc Hưng, sinh năm 1966, ngụ ấp Long Hải, xã Trường Tây, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh làm chủ. Khi ông Bổn vào làm thì được ông Phương phân công gỡ cốt pha ở lầu một của công trình nhưng không được cung cấp các trang thiết bị bảo hộ lao động theo qui định. Khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, ông Bổn đang gỡ cốt pha đứng trên giàn giáo cách mặt đất 10,6 mét không có dây an toàn chống ngã cao và bị trượt chân té ngã xuống đất bất tỉnh, được mọi người đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế thị xã Hòa Thành nhưng đã tử vong trên đường đi cấp cứu.
Ngày 18-3-2025, Sở Nội vụ tỉnh Tây Ninh quyết định thành lập đoàn điều tra tai nạn lao động, qua kiểm tra đoàn điều tra về vụ tai nạn lao động có Công văn số 07 ngày 25-3-2025 về quan điểm vụ tai nạn xảy ra ngày 15-3-2025:
+ Nguyên nhân vụ tai nạn: Ông L.V.B làm việc trên cao nhưng không có dây an toàn chống ngã cao, bị trượt chân té xuống đất khi đang đứng trên giàn giáo đặt ở ban công lầu 1 có độ cao 10,6 mét dẫn đến tai nạn và tử vong trên đường đi cấp cứu.
+ Lỗi của người có liên quan: N.D.P là thầu thi công Công trình xây dựng nhà ở bố trí người lao động làm việc trên cao nhưng trang cấp không đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động (không trang cấp dây an toàn chống ngã cao theo quy định tại Thông tư số 25/2022/TT-BLĐTBXH ngày 30-11-2022 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định về chế độ trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động).
* Kết luận giám định:
- Kết luận giám định số 494 ngày 27-3-2025 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: mẫu máu ghi thu của ông L.V.B không có nồng độ cồn trong máu.
- Kết luận giám định số 496 ngày 27-3-2025 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: mẫu máu ghi thu của ông L.V.B không tìm thấy chất ma tuý.
- Kết luận giám định số 446 ngày 01-4-2025 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: nguyên nhân tử vong của ông L.V.B do chấn thương ngực, bụng kín làm dập phổi, rách tĩnh mạch chủ dưới, vỡ gan.
Quá trình điều tra, bị cáo N.D.P đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo N.D.P đã bồi thường cho gia đình nạn nhân L.V.B 70.000.000 đồng và bà Võ Thị Thu là đại diện gia đình nạn nhân có đơn yêu cầu miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Phương.
Tại bản Cáo trạng số: 31/CT-VKSHT ngày 15-6-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo N.D.P về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo N.D.P phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 259 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Đối với bị cáo N.D.P: Áp dụng điểm a khoản 1, 5 Điều 295; Điều 65; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 – 15 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”, ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật. Trách nhiệm dân sự: Bị cáo N.D.P đã bồi thường cho gia đình nạn nhân L.V.B 70.000.000 đồng và bà Võ Thị Thu là đại diện gia đình nạn nhân có đơn yêu cầu miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Phương. Biện pháp tư pháp: Đối với 01 sổ tiết kiệm số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng có kỳ hạn số CX 829334 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Tây Ninh – Phòng Giao dịch Hoà Thành ghi tên N.D.P chủ tài khoản, đề nghị tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Phạt bổ sung bị cáo N.D.P số tiền 20.000.000 – 40.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội.
Bị cáo N.D.P nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi sai trái, xin khắc phục.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thị xã Hòa Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Hòa Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết, bà Võ Thị Thu (vợ ông L.V.B), chị Lê Thị Nhựt, Lê Thị Huệ (con ông Bổn) trình bày ông Bổn, bà Thu là vợ chồng có 02 con chung, Người đại diện hợp pháp của bị hại (bà Võ Thị Thu) xin vắng mặt tại phiên tòa, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai, được Công an Thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phù hợp với bản cáo trạng; phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án như sau:
Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 15-3-2025, tại công trình nhà ở thuộc ấp Long Bình, xã Long Thành Nam, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh do bị cáo N.D.P làm chủ thầu xây dựng. Ông L.V.B là công nhân công trình làm nhiệm vụ gỡ cốt pha trên cao cách mặt đất 10,6 mét không được bị cáo Phương trang bị dây an toàn chống ngã cao, vi phạm Mục 30 Chương XXII.4. Phụ lục I Thông tư 25/2022/TT-BLĐTBXH ngày 30-11-2022 của Bộ Lao động thương binh và xã hội quy định về chế độ trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động dẫn đến ông Bổn trượt chân té ngã xuống đất tử vong. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo N.D.P phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 295 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì bị cáo đã không tuân thủ theo các quy tắc trong quá trình lao động, sản xuất, không đề cao tính an toàn lao động nên dẫn đến cái chết của ông Bổn, đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe người khác nên Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng, phù hợp với hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo nhằm răn đe bị cáo và để giáo dục, phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, trong quá trình điều tra, bà Võ Thị Thu có đơn xin bãi nại và trong quá trình xét xử bà Thu tiếp tục có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy bị cáo N.D.P có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này, bị cáo chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và các tình tiết khác tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; có nơi cư trú cụ thể rõ ràng; bị cáo cũng không thuộc trường hợp không cho hưởng án treo, phạm tội lần đầu, xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù do bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội theo quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng thêm Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo N.D.P được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định là phù hợp. Ngoài ra, bị cáo Phương còn bị áp dụng hình phạt bổ sung với số tiền 20.000.000 (Hai mươi) triệu đồng sung vào Ngân sách Nhà nước.
Biện pháp tư pháp: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo N.D.P đã bồi thường số tiền 70.000.000 (Bảy mươi triệu) đồng cho bà Võ Thị Thu và bà Thu không yêu cầu bồi thường gì thêm cần ghi nhận.
- Lưu 01 (Một) thẻ nhớ của camera an ninh giám sát công trình trong hồ sơ vụ án.
Đối với 01 sổ tiết kiệm số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng có kỳ hạn số CX 829334 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Tây Ninh – Phòng Giao dịch Hoà Thành ghi tên N.D.P chủ tài khoản, tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.
Căn cứ điểm a, khoản 1, 5 Điều 295; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo N.D.P phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”. Xử phạt: Bị cáo N.D.P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”. Thời hạn thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo N.D.P cho Ủy ban nhân dân phường Long Thành Bắc, thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Phạt bổ sung bị cáo N.D.P số tiền 20.000.000 (Hai mươi) triệu đồng sung vào Ngân sách Nhà nước.
2. Biện pháp tư pháp: Ghi nhận bà Võ Thị Thu (vợ ông Bổn) không yêu cầu bị cáo N.D.P bồi thường gì thêm. Đối với 01 sổ tiết kiệm số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng có kỳ hạn số CX 829334 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Tây Ninh – Phòng Giao dịch Hoà Thành ghi tên N.D.P chủ tài khoản tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Lưu 01 (Một) thẻ nhớ của camera an ninh giám sát công trình trong hồ sơ vụ án.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo N.D.P phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ ./.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1); - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; - Phòng KTNV-TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - Công an tỉnh Tây Ninh; - Phòng PV06 CA tỉnh Tây Ninh; - VKSND Thị xã Hòa Thành; - Chi cục THADS Thị xã Hòa Thành; - UBND phường Long Thành Bắc, Thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ; Lưu tập án (Hi). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Trọng Hiếu |