- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sử dụng tài liệu, con dấu giả - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ c…"
- Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ: Khoản 1 Điều 341 ; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 35 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
T
N NH N N
C N H
H I CHỦ N H VIỆT N M
HUYỆN T NH LINH
c l p - T do - H nh ph c
T NH NH THU N
Bản án số: 32/2025/HS-ST
Ngày: 16 - 5 -2025
NHÂN DANH
NU C C N H
H I CHỦ N H VIỆT N M
T
N NH N N HUYỆN T NH LINH, T NH NH THU N
- Thành ph n H i đ ng xét x s th m g m có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Mận.
Các H i thẩm nhân dân:
1. Ông Lưu Xuân Vĩnh;
2. Bà Bùi Thị Luyến.
- Th ký phiên toà: Bà Nguyễn Hồng Ngọc Tú - Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n Tánh Linh, t nh Bình Thu n tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2025, tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 08/2025/HSST-QĐ, ngày 17 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hồ P- sinh năm 1973 tại Quảng Trị; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, Đ, T, Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công chức; Trình độ học vấn: 12/12; Tiền án, Tiền sự: Không; Con ông: Hồ Đ, sinh năm 1936; Con bà: Cao Thị K, sinh năm 1939; Anh chị em ruột: Có 07 người, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình; Vợ: Trần Thị Mai N, sinh năm 1979; Con: Có 02 người, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2014.
Bị cáo Hồ P đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 05/02/2025 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Thông P1, sinh năm 1962; nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt (đã có đơn xin xét xử vắng mặt).
Ng ời làm chứng:
Ông Ngô Văn L, sinh năm 1967; trú tại: Khu phố L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
N I UN VỤ N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng giữa năm 2017, Hồ P đi học liên thông tại Trường Cao đẳng C ở thành phố P. Trong thời gian này có lần P ngồi uống cà phê trước trường thì có một người tên H (không r nhân thân lai lịch), nói “Có ai không có b ng, có nhu c u làm b ng không?”. Do có nhu cầu có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 nên P đã liên hệ với H. Theo yêu cầu của H, P đã cung cấp đầy đủ thông tin cá nhân và đưa cho H số tiền 720.000 đồng. Đến khoảng 15 ngày sau, H đưa cho P 01 giấy phép lái xe hạng A1 số: 600181038029, do sở giao thông vận tải tỉnh B, cấp ngày 08/11/2017, mang tên Hồ P và P đã sử dụng giấy phép lái xe để điều khiển phương tiện tham gia giao thông.
Khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 13/5/2024 Hồ P điều khiển xe mô tô biển số 86Y1-4445, lưu thông trên Quốc lộ E, hướng từ huyện H đi xã Đ, T, khi đi đến đoạn đường thuộc cầu S, K. T, TT. L, Tánh L1 đường cong cua về bên trái theo hướng đi, đường có vạch k liền màu vàng, thì gặp 01 xe tải chạy cùng chiều phía trước nên P bật tín hiệu vượt phải, rồi chuyển hướng sang phần đường bên trái để vượt qua xe tải, khi đang vượt xe tải thì va chạm với xe ô tô biển số 86A.111.63 do ông Thông P1, sinh năm 1962 ở K. Chăm, TT. Lạc Tánh, Tánh L1, Bình Thuận điều khiển chạy ngược chiều gây tai nạn. Hậu quả: Xe ô tô biển số 86A-111.63 bị thiệt hại 34.918.988 đồng (Theo kết quả định giá tài sản bị thiệt hại do tai nạn giao thông gây ra, ngày 20/ /202 ). Sau khi tai nạn xảy ra Hồ P xuất trình với cơ quan Cảnh sát giao thông 01 giấy phép lái xe hạng A1, số: 600181038029 do sở giao thông vận tải tỉnh B, cấp ngày 08/11/2017. Do nghi ngờ là giấy phép lái xe giả nên lực lượng Cảnh sát giao thông Công an huyện T đã tiến hành thu giữ phục vụ cho công tác giám định.
Tại kết luận giám định số: 895/KL-KTHS ngày 02/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận: Giấy phép lái xe hạng A1 số: 600181038029 (nêu ở mục II.1) là giả.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hồ P phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tang vật thu giữ:
- 01 giấy phép lái xe giả hạng A1, số: 600181038029, do Sở giao thông vận tải tỉnh B, cấp ngày 08/11/2017, mang tên Hồ P .
Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKSND-TL ngày 05/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Hồ P, về tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát huyện T vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hồ P như nội dung cáo trạng, khẳng định bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hồ P phạm tội “Sử dụng tài liệu giả cảu cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng khoản 1 Điều 134; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để:
Xử phạt bị cáo Hồ P từ 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) đến 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu huỷ 01 giấy phép lái xe giả hạng A1, số: 600181038029, do Sở giao thông vận tải tỉnh B, cấp ngày 08/11/2017, mang tên Hồ P.
* Tại phiên tòa bị cáo Hồ P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NH N ỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vụ án vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp.
[2] Về xác định hành vi phạm t i của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Hồ P thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh đã truy tố. Xét, lời khai này của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập và phản ánh trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng giữa năm 2017, Hồ P đi học lớp liên thông đại học tại Trường cao đẳng C. Trong thời gian này, Hồ P quen biết một người tên H (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) làm dịch vụ thi bằng lái xe hộ nên đã liên hệ cung cấp các thông tin cá nhân để nhờ người này làm thủ tục cấp bằng lái xe mô tô. Theo thoả thuận thì Hồ P đưa cho H số tiền 720.000 đồng để làm giấy phép lái xe. Khoảng 15 ngày sau, H giao cho P giấy phép lái xe hạng A1, số: 600181038029, do sở giao thông vận tải tỉnh B, cấp ngày 08/11/2017, mang tên Hồ P . Từ đó, Hồ P sử dụng giấy phép lái xe này để lái xe mô tô.
Quá trình sử dụng giấy phép lái xe hạng A1, số: 600181038029, đến ngày 13/5/2024 Hồ P điều khiển xe mô tô biển số 86Y1-4445, lưu thông trên Quốc lộ E, hướng từ huyện H đi xã Đ, T, khi đi đến đoạn đường thuộc cầu S, K. Tân Thành, TT. L, Tánh L1 thì gây tai nạn giao thông.
Tại Kết luận giám định số: 895/KL-KTHS ngày 02/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận: Giấy phép lái xe hạng A1 số: 600181038029 là giả.
Như vậy, là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, biết rõ việc sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là vi phạm pháp luật hình sự nhưng bị cáo vẫn sử dụng. Bị cáo không tham gia học tập và không tham gia kỳ thi sát hạch để được cấp giấy phép lái xe nhưng vẫn sử dụng giấy phép lái xe giả hạng A1 số: 600181038029 để điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại AI BLAD biển số 86Y1-4445 tham gia giao thông gây tai nạn.
Hành vi của bị cáo Hồ P là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan Nhà nước trong quản lý hành chính về các loại giấy tờ, tài liệu được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó cần xét xử bị cáo thật nghiêm minh theo quy định của pháp luật hình sự để răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
- Đối với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
- Đối với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo P phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
[4]. Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo có quá trình nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên chỉ cần áp dụng hình phạt tiền cũng đủ răn đe giáo dục với bị cáo và phù hợp với quy định tại các Điều 31, 35 và 341 Bộ luật hình sự. Bên cạnh đó cũng xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần áp dụng Điều 35 và Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo với mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt thấp nhất được quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự là phù hợp với tính khoan hồng của pháp luật.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với giấy phép lái xe hạng A1 số: 600181038029, do Sở giao thông vận tải tỉnh B, cấp ngày 08/11/2017, mang tên Hồ P chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
[ ] Về trách nhiệm dân sự: Việc sử dụng giấy phép lái xe giả để điều khiển phương tiện giao thông của bị cáo gây tai nạn làm thiệt hại về tài sản của ông Thông P1. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, bị cáo đã thực hiện việc bồi thường. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì thêm nên hội đồng xét xử không xét đến.
[7] Đối với hành vi của Hồ P điều khiển phương tiện tham gia giao thông gây tai nạn làm thiệt hại về tài sản của ông Thông P1 với số tiền 34.918.988 đồng không đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự và chuyển đến cơ quan có thẩm quyền sử lý hành chính là đúng theo quy định của pháp luật.
[8] Đối với hành vi làm giả giấy phép lái xe hạng A1 cho Hồ P của đối tượng tên H do không xác định được nhân thân lai lịch của đối tượng nên không có căn cứ xử lý.
[9] Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt và trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng là có căn cứ nên cần được chấp nhận.
[10] Về án phí: Bị cáo Hồ P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ỊNH
1/ Căn cứ: Khoản 1 Điều 341 ; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 35 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Hồ P phạm tội: “ Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Phạt tiền bị cáo Hồ P số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để nộp vào Ngân sách nhà nước.
2/ Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:
Buộc bị cáo Hồ P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung Ngân sách Nhà nước.
3/ Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (16/5/2025); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
(Đã giải thích quyền kháng cáo)
N i nh n:
| - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận; - VKSND huyện T; - THADS huyện T; -Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Thuận; - Những người tham gia tố tụng; - UBND địa phương nơi BC cư trú; - Lưu VP – Lưu HSVA. | TM. H I ỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PH N – CHỦ TỌ PHIÊN T ương Thị M n |