vanban.org

Bản án 32/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Cao Thị Thanh H đối với ông Nguyễn Văn T. Bà Cao Thị Thanh H được ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 06/3/2013 và Nguyễn Cao C, sinh ngày 21/4/2014 cho ông Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cao Thị Thanh H - Nguyễn Văn T - Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẠC LIÊU
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST
Ngày 29 tháng 4 năm 2025
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Lam

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Khưu Liên Dung

Bà Dư Thị Út

Thư ký phiên tòa: Bà Hồng Thị Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Cao Thị Thanh H, sinh ngày 23/4/1983

Nơi đăng ký thường trú: Số A, đường C, Phường M, thành phố V, tỉnh bà Rịa Vũng Tàu.

Chỗ ở hiện nay: Khóm T, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh ngày 09/8/1993

Địa chỉ: Số X, khóm K, phường N, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Cao Thị Thanh H trình bày:

- Về hôn nhân: Bà H và và ông Nguyễn Văn T sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2012, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu ngày 14/9/2016. Trong quá trình chung sống vợ chồng không có tiếng nói chung, chung sống cùng nhau không có hạnh phúc. Bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với ông T.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống có hai con chung tên Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 06/3/2013 và Nguyễn Cao C, sinh ngày 21/4/2014. Các con đang sống cùng ông T. Khi ly hôn bà H đồng ý giao hai con chung cho ông T nuôi dưỡng, bà H không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung; Nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung vụ án:

- Về thủ tục tố tụng:

Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Giải quyết đúng thẩm quyền, cấp, tống đạt các văn bản đúng quy định. Thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định, không thuộc trường hợp phải thay đổi ai. Vì vậy, về mặt thủ tục tố tụng, Viện kiểm sát không có ý kiến hay kiến nghị.

- Về nội dung vụ án:

Có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Cao Thị Thanh H đối với ông Nguyễn Văn T.

Về con chung, có đủ cơ sở giao con chung cho ông T nuôi dưỡng, bà H không cấp dưỡng nuôi con do ông T không yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến của đương sự; quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Cao Thị Thanh H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn T, nên đây là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông T có nơi cư trú tại thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Xét thấy bà Cao Thị Thanh H có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Tòa án xét xử vắng mặt bà H, ông T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Bà Cao Thị Thanh H và ông Nguyễn Văn T tự nguyện sống chung như vợ chồng từ năm 2012, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu ngày 14/9/2016. Nên hôn nhân giữa bà H và ông T là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Bà H xác định quá trình chung sống không có tiếng nói chung, chung sống cùng nhau không có hạnh phúc, đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Ông T không có lời trình bày. Mặt khác, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng ông T đều vắng mặt tại các buổi hòa giải. Qua đó cho thấy ông T không có thiện chí hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy mục đích của hôn nhân giữa bà H và ông T không đạt được.

Căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H, cho bà H được ly hôn với ông T.

Về con chung: Trong quá trình chung sống có hai con chung tên Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 06/3/2013 và Nguyễn Cao C, sinh ngày 21/4/2014. Các con chung đang sống cùng ông T. Bà H đề nghị khi ly hôn giao con cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, bà H không cấp dưỡng nuôi con. Ông T không có ý kiến trình bày. Tòa án đã đến nơi ở của Nguyễn Tiến Đ và Nguyễn Cao C để tiến hành ghi nhận ý kiến của các cháu Đ, C và của ông T, nhưng không ghi nhận được ý kiến do các cháu Đ, C và cả ông T đều không có mặt tại nhà ở. Đại diện chính quyền địa phương cung cấp thông tin là cháu Đ và cháu C đang sống cùng với cha là ông T, các cháu đang phát triển bình thường.

Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở giao hai con chung cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Ông T không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con, cho nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định trong quá trình chung sống, bà và ông T không có tạo lập được tài sản chung và cũng không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Ông T không có ý kiến trình bày. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bà Cao Thị Thanh H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Cao Thị Thanh H đối với ông Nguyễn Văn T. Bà Cao Thị Thanh H được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.

2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 06/3/2013 và Nguyễn Cao C, sinh ngày 21/4/2014 cho ông Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, hiện con chung đang sống cùng ông T, cho nên ông T được tiếp tục nuôi dưỡng con chung.

Bà Cao Thị Thanh H được quyền thăm nom con chung, không ai được phép cản trở.

Bà Cao Thị Thanh H không cấp dưỡng nuôi con do ông Nguyễn Văn T không yêu cầu.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự xác định không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về án phí: Án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình bà Cao Thị Thanh H phải chịu 300.000 đồng. Bà H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0000006 ngày 17/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu được chuyển thu án phí 300.000 đồng.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

6. Án xử sơ thẩm công khai, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ