- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST Ngày: 22 – 4 – 2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tiến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Âu Cần Đông
Ông Lê Văn Qui
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Nghiên – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang và điểm cầu thành phần: Ủy ban nhân dân phường T, thị xã L, tỉnh H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 154/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 02 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1997. Có mặt
Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện H, tỉnh B.
Nơi ở hiện nay: Khu vực 5, phường T, thị xã L, tỉnh H.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng H, sinh năm 1994. Vắng mặt
Địa chỉ: Khu vực 5, phường T, thị xã L, tỉnh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2019 chị nguyễn Thị N với anh Nguyễn Trọng H tự nguyện cưới nhau và chung sống với nhau như vợ chồng, sau đó chị N và anh H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã L, tỉnh H vào ngày 09/7/2019.
Nguyên nhân mâu thuẫn: Do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cự cải, cuộc sống chung không hạnh phúc, nên tôi và anh H ly thân kéo dài từ năm 2021 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Nguyễn Trong H.
Về con chung: Chị N và anh H có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng K (giới tính nam), sinh ngày 15/10/2019. Con chung hiện nay đang sống chung với chị N nên chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hoàng K và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Trọng H được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Tòa án không tiến hành ghi lời khai của bị đơn Nguyễn Trọng H.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến như sau: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Trong H. Về con chung: Chị Nguyễn Thị N được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hoàng K (giới tính nam), sinh ngày 15/10/2019. Chị N không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Anh Nguyễn Trong H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn”, căn cứ các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Nguyễn Trọng H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng cố tình vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đối với bị đơn và dành quyền kháng cáo cho bị đơn theo luật định.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và Nguyễn Trọng H tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã L, tỉnh H theo Giấy chứng nhận kết số 43/2019, cấp ngày 09/7/2019 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Xét nguyên nhân yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị N: Quá trình chung sống thời gian đầu cuộc sống vợ chồng anh chị hạnh phúc nhưng dần về sau vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không hạnh phúc nên chị N và anh H sống ly thân từ năm 2021 đến nay.
Xét thấy, chị N và anh H có thời gian sống ly thân kéo dài từ năm 2021 đến nay nhưng anh chị vẫn không hàn gắn tình cảm và đoàn tụ được. Tại phiên tòa chị N cương quyết yêu cầu ly hôn, từ đó cho thấy mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân của anh là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N.
Về con chung: Chị N và anh H có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng K (giới tính nam), sinh ngày 15/10/2019. Xét thấy, từ khi ly thân đến nay cháu K sống chung với chị N và chị N cũng có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng anh H cố tình vắng mặt nên Tòa án không ghi được lời khai cũng như yêu cầu của anh H về việc nuôi dưỡng con chung.
Do đó, để đảm bảo sự phát triển và không làm xáo trộn cuộc sống của cháu Nguyễn Hoàng K nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Nguyễn Hoàng K cho chị Nguyễn Thị N tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu anh Nguyễn Trọng H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Anh Nguyễn Trọng H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N.
2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Trong H. Giấy chứng nhận kết hôn số: 43/2019, do Ủy ban nhân dân phường T, thị xã L, tỉnh H cấp ngày 09/7/2019, không còn giá trị pháp lý.
3. Về con chung: Chị Nguyễn Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Hoàng K (giới tính nam), sinh ngày 15/10/2019. Chị Nguyễn Thị N không có yêu cầu anh Nguyễn Trong H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Anh Nguyễn Trong H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
5. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo lai thu số 0008021, lập ngày 11 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Chị Nguyễn Thị N đã nộp xong án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 22/4/2025). Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân xã, phường nơi các đương sự cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND thị xã Long Mỹ; - Chi cục THADS thị xã Long Mỹ; - UBND phường Thuận An; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Lê Văn Qui - Âu Cần Đông | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Tiến HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Tiến |