vanban.org

Bản án 32/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T về việc ly hôn với ông Nguyễn Thanh P.

Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Thanh P. Về con chung: Giao Nguyễn Thanh T, sinh ngày 20/4/2021 cho bà Nguyễn Thị T được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Giữa chị Nguyễn Thị T với anh Nguyễn Thanh P"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T về việc ly hôn với ông Nguyễn Thanh P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 20-8-2025
V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Cảnh

2. Bà Phạm Thị Thu Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bình Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Duyên Em – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 99/2025/TLST–HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025 về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 26/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2025, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1990

Địa chỉ: Ấp P, xã C, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là ấp P, xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm: 1975

Địa chỉ: Ấp P, xã C, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là ấp P, xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre)

Bà T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; ông P vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nhưng theo đơn khởi kiện bà trình bày:

Bà và ông Nguyễn Thanh P kết hôn vào năm 2021, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã C, tỉnh Vĩnh Long) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 11/5/2021. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu. Thời gian gần đây, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông P thường xuyên ăn nhậu say sỉn về chửi mắng, đánh đập bà, không tôn trọng, xúc phạm gia đình bên vợ. Do xác định tình cảm vợ chồng không còn hàn gắn được nữa nên bà yêu cầu được ly hôn với ông P.

Về con chung: Bà và ông P có 01 con chung là Nguyễn Thanh T, sinh ngày 20/4/2021. Bà yêu cầu được nuôi dưỡng cháu T, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh P đã được tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng mời đến Tòa án tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và dự phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án nhưng ông vắng mặt không có lý do nên không có lời khai cũng như không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của bà T.

Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký: Thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T về việc ly hôn với ông Nguyễn Thanh P. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày 20/4/2021 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng, ông P không phải cấp dưỡng nuôi. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị T yêu cầu ly hôn và tranh chấp nuôi con với ông Nguyễn Thanh P, cư trú tại ấp P, xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là ấp P, xã C, tỉnh Vĩnh Long) là vụ án hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn ông Nguyễn Thanh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại tòa không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án vắng mặt ông P là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông P kết hôn vào năm 2008, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã C, tỉnh Vĩnh Long) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 11/5/2021 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Theo bà T trình bày, sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu. Thời gian gần đây, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do ông P thường xuyên ăn nhậu say sỉn về chửi mắng, đánh đập bà, không tôn trọng, xúc phạm gia đình bên vợ. Do xác định tình cảm vợ chồng không còn hàn gắn được nữa nên bà yêu cầu được ly hôn với ông P. Xét thấy, Tòa án đã tiến hành hòa giải để bà T, ông P đoàn tụ nhưng ông P không đến tham dự các phiên hòa giải, bà T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và kiên quyết yêu cầu ly hôn với ông P, đã chứng tỏ ông bà không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông P đã mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông P là phù hợp.

Về con chung: Bà T và ông P có 01 con chung là Nguyễn Thanh T, sinh ngày 20/4/2021. Bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án ông P vắng mặt nên không có ý kiến đối với yêu cầu được nuôi con của bà T. Hơn nữa, con còn nhỏ (dưới 7 tuổi) cần có sự chăm sóc, nuôi dưỡng trực tiếp của mẹ. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích về mọi mặt, tránh làm xáo trộn cuộc sống hiện nay của con, cần giao con cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T tự nguyện không yêu cầu ông P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân, gia đình sơ thẩm: Bà T phải chịu là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Các Điều 147, 227, 228, 273, 278 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T về việc ly hôn với ông Nguyễn Thanh P.

Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Thanh P.

2. Về con chung: Giao Nguyễn Thanh T, sinh ngày 20/4/2021 cho bà Nguyễn Thị T được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân.

Ghi nhận việc bà Nguyễn Thị T tự nguyện không yêu cầu ông Nguyễn Thanh P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn Thanh P được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở ông thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc của cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số: 0010396 ngày 10/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là Phòng Thi hành án dân sự k – Vĩnh Long).

Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được thông báo, niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ