- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Q và anh Vũ Duy N"
- Tòa quyết gì? Xử cho chị Nguyễn Thị Q được ly hôn với anh Vũ Duy K.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:32/2025/HNGĐ - ST Ngày 26/9/2025. (V/v:ly hôn, tranh chấp nuôi con) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – NINH BÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hữu Quốc.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Phiếu, ông Bùi Khắc Thái
Thư ký phiên toà: bà Trần Thị Hồng - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 3 - Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Ninh Bình tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thu Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 3- Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 181/2025/TLST- HNGĐ, ngày 24 tháng 6 năm 2025 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1990. CCCD số: xxxxxxxxxxxx
Nơi cư trú: xóm 1, xã P, tỉnh Ninh Bình.
- Bị đơn: anh Vũ Duy K, sinh năm 1990. CCCD số: xxxxxxxxxxxx
Nơi cư trú: xóm 1, xã P, tỉnh Ninh Bình
Hiện nay anh Vũ Duy K đang cai nghiện tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Ninh Bình. Địa chỉ: thôn 1, phường Trung Sơn, tỉnh Ninh Bình
Chị Q vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt; anh K vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 05 tháng 6 năm 2025, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Q trình bày: tôi và anh Vũ Duy K đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 08 tháng 02 năm 2010 tại UBND xã Phú Sơn, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình (nay là UBND xã Phú Sơn, tỉnh Ninh Bình). Sau khi cưới, vợ chồng tôi chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian dài tại thôn 1, xã Lạc Vân, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình (nay là xóm 1, xã Phú Sơn, tỉnh Ninh Bình). Đến khoảng đầu năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau và do anh Vũ Duy K chơi bời, sa vào việc sử dụng ma túy nên đã phải đi cai nghiện ma túy tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Ninh Bình. Tôi xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên làm đơn đề nghị Tòa án cho tôi được ly hôn anh Vũ Duy K. Về con chung: chúng tôi có 01 con chung, cháu tên là Vũ Gia Bảo, sinh ngày 07/10/2010. Khi ly hôn tôi đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vũ Gia Bảo không yêu cầu anh Vũ Duy K phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, công nợ chung: tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/8/2025, bị đơn là anh Vũ Duy K trình bày: tôi và chị Nguyễn Thị Q kết hôn với nhau vào ngày 08 tháng 02 năm 2010 tại UBND xã Phú Sơn, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình (nay là UBND xã Phú Sơn, tỉnh Ninh Bình) là đúng. Sau khi cưới, vợ chồng tôi chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian dài tại thôn 1, xã Lạc Vân, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình (nay là xóm 1, xã Phú Sơn, tỉnh Ninh Bình). Đến thời gian gần đây vợ chồng mới phát sinh mâu thuẫn do quan điểm sống và cách sống của hai vợ chồng không hợp nhau. Tuy vợ chồng tôi có mâu thuẫn nhưng tôi không bỏ vợ bỏ con nên tôi không đồng ý ly hôn với chị Q, đợi khi tôi cai nghiện xong thì hai vợ chồng mới ly hôn. Về con chung: tôi và chị Q có 01 con chung cháu tên là Vũ Gia Bảo, sinh ngày 07/10/2010, hiện đang ở với chị Q. Khi ly hôn tôi đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vũ Gia Bảo không yêu cầu chị Nguyễn Thị Q phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, công nợ chung: tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng do anh K vắng mặt tại Tòa án nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên toà bà Kiểm sát viên cũng đã có bài phát biểu khẳng định quá trình giải quyết vụ án: Về mặt tố tụng Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã xác định đúng, đầy đủ những người tham gia tố tụng, tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có vi phạm thủ tục tố tụng dân sự. Về nội dung bà Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: các Điều 5, 147, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị: Xử cho chị Nguyễn Thị Q được ly hôn với anh Vũ Duy K. Về con chung: giao cháu Vũ Gia Bảo cho chị Nguyễn Thị Q được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. anh Vũ Duy K không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Nguyễn Thị Q. Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, khi có lí do chính đáng một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Về án phí: chị Nguyễn Thị Q phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng chị Nguyễn Thị Q đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: bị đơn anh Vũ Duy K có địa chỉ tại xóm 1, xã Phú Sơn, tỉnh Ninh Bình. Vì vậy việc Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Ninh Bình áp dụng Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự để thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt nhưng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân:
Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Q và anh Vũ Duy K là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau thời gian dài tại thôn 1, xã Lạc Vân, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình (nay là xóm 1, xã Phú Sơn, tỉnh Ninh Bình). Đến khoảng đầu năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo sự trình bầy của các đương sự cũng như qua xác minh tại cơ sở là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau và do anh Vũ Duy K chơi bời, sa vào việc sử dụng ma túy nên đã phải đi cai nghiện ma túy tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Ninh Bình. Bản thân chị Nguyễn Thị Q xác định tình cảm vợ chồng đã hết, chị không còn thương yêu anh Vũ Duy K nữa, kiên quyết xin ly hôn với anh Vũ Duy K; còn anh Vũ Duy K dù không đồng ý ly hôn nhưng lại đề nghị chờ khi anh cai nghiện xong vợ chồng mới giải quyết ly hôn là yêu cầu vô lý. Do đó có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Q và anh Vũ Duy K đã trở nên trầm trọng, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Q, xử cho chị Nguyễn Thị Q được ly hôn với anh Vũ Duy K là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con chung: chị Nguyễn Thị Q và anh Vũ Duy K có 01 con chung cháu tên là Vũ Gia Bảo, sinh ngày 07/10/2010, hiện đang ở cùng chị Nguyễn Thị Q. Xét bản thân chị Nguyễn Thị Q và anh Vũ Duy K đều khỏe mạnh, không vi phạm đạo đức, lối sống trong việc nuôi dạy con chung và đều là lao động tự do nên có thu nhập theo thu nhập trung bình ở địa phương khoảng 200.000 đồng/người/ngày (tính đến trước thời điểm anh K khi đi cai nghiện ma túy tự nguyện) nên chị Q có đủ điều kiện nuôi con. Tuy nhiên hiện nay anh Vũ Duy K đang cai nghiện tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Ninh Bình nên không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con. Do đó cần giao cho chị Nguyễn Thị Q được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vũ Gia Bảo là thỏa đáng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Thị Q không có yêu cầu nên không buộc anh Vũ Duy K phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Nguyễn Thị Q là phù hợp quy định của pháp luật.
Về tài sản và công nợ chung: chị Nguyễn Thị Q và anh Vũ Duy K không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên Toà không xét.
Về án phí:
Về án phí: chị Nguyễn Thị Q phải nộp án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên đây:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, các khoản 1, 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
1. Xử cho chị Nguyễn Thị Q được ly hôn với anh Vũ Duy K.
2. Về con chung: giao cháu Vũ Gia Bảo, sinh ngày 07/10/2010 cho chị Nguyễn Thị Q được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Vũ Gia Bảo đủ 18 tuổi. Anh Vũ Duy K không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Nguyễn Thị Q
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí: chị Nguyễn Thị Q phải nộp 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị Q đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nho Quan (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 – Ninh Bình) theo biên lai số BLTU/24/0001126, ngày 24/6/2025.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - Toà án tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - VKSND Khu vực 3; - THADS tỉnh Ninh Bình; - UBND xã Phú Sơn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, Vp. | TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đã ký Nguyễn Hữu Quốc |