vanban.org

Bản án 32/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Phan Văn H được ly hôn chị Trần Thị H.

[2]. Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung: Con chung Phan Quỳnh H, sinh ngày 27/4/2006 hiện đã trưởng thành không yêu cầu tòa án giải quyết. Giao các con chung Phan Thành H, sinh ngày 26/10/2016 và Phan Gia H, sinh ngày 27/10/2020 cho anh Phan Văn H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi các con ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Phan Văn H được ly hôn chị Trần Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHI XUÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 16-6-2025
V/v. Tranh chấp hôn nhân gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Quân và bà Trần Thị Thanh Tâm

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Bích – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh: Ông Trần Ngọc An – Kiểm sát viên.

Vào hồi 14 giờ 00 phút, ngày 16 tháng 6 năm 2025 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2025/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2025, về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST – HNGĐ, ngày 22 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: anh Phan Văn H, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).

- Bị đơn: chị Trần Thị H, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của người xin ly hôn, nguyên đơn anh Phan Văn H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Văn H và chị Trần Thị H đã đăng ký hết hôn với nhau ngày 16/9/2005 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Nay, chị H thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và yêu cầu ly hôn với chị Trần Thị H.

- Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung, hiện con chung Phan Quỳnh H, sinh ngày 27/4/2006 hiện đã trưởng thành không yêu cầu tòa án giải quyết. Anh Phan Văn H có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng các con chung Phan Thành H, sinh ngày 26/10/2016 và Phan Gia H, sinh ngày 27/10/2020, anh Phan Văn H không yêu cầu chị Trần Thị H cấp dưỡng tiền nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh chị H không ở nhà nên bà Trần Thị L là mẹ đẻ của chị Trần Thị H nhận thay và chịu trách nhiệm giao Quyết định xét xử số 06/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân cho chị H. Khi chị H nhận được Quyết định xét xử từ bà Lương nhưng không đồng ý lên tòa án và có ý kiến tòa án cứ giải quyết theo quy định.

Do Bị đơn vắng mặt nên Tòa án phải tiến hành mở phiên tòa xét xử để giải quyết yêu cầu của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân phát biểu quan điểm: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phan Văn H được ly hôn chị Trần Thị H. Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung, hiện con chung Phan Quỳnh H, sinh ngày 27/4/2006 hiện đã trưởng thành không yêu cầu tòa án giải quyết nên miễn xét. Tại biên bản xác minh bà L cho biết ý kiến của chị H giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phan Thành H, sinh ngày 26/10/2016 và Phan Gia H, sinh ngày 27/10/2020 đến tuổi trưởng thành (18 tuổi), chị Trần Thị H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung miễn xét. Buộc nguyên đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì yêu cầu ly hôn của anh Phan Văn H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

Sau khi thụ lý vụ án, tòa án đã ấn định thời gian công khai chứng cứ, H giải nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Tòa án ấn định tổ chức thời gian công khai chứng cứ, H giải số 02. Đến ngày, giờ có mặt nguyên đơn anh Phan Văn H nhưng bị đơn chị Trần Thị H vắng mặt nên không tiến hành phiên họp kiểm tra chứng cứ và H giải, nên Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra, công khai chứng cứ có mặt nguyên đơn nhưng bị đơn chị Trần Thị H vắng mặt và thông báo kết quả cho bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 210 BLTTDS. Nguyên đơn đề nghị không H giải nên thuộc trường hợp không H giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật TTDS.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt, xét việc vắng mặt của bị đơn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự nên không phải hoãn phiên tòa.

. Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thì hôn nhân của nguyên đơn và bị đơn hoàn toàn hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng đã sống chung được một thời gian nhưng do tính tình không thể H hợp nên các bên đều có nguyện vọng xin được ly hôn. Sau khi thụ lý, tòa án đã thông báo phiên H giải để các đương sự tiến hành H giải nhưng bị đơn vắng mặt tại các buổi làm việc và xét xử vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng hôn nhân mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh Phan Văn H được ly hôn với chị Trần Thị H.

. Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung hiện con chung Phan Quỳnh H, sinh ngày 27/4/2006 hiện đã trưởng thành không yêu cầu tòa án giải quyết nên miễn xét. Các con chung Phan Thành H, sinh ngày 26/10/2016 và Phan Gia H, sinh ngày 27/10/2020 hiện do nguyên đơn nuôi dưỡng, các đương sự thống nhất trình bày giao con chung cho anh Phan Văn H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi các con chung đủ 18 tuổi, chị Trần Thị H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho anh Phan Văn H. Xét nguyện vọng của các đương sự như trên là phù hợp nên HĐXX cần chấp nhận.

. Về tài sản và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu.

. Về án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 48, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Phan Văn H được ly hôn chị Trần Thị H.

[2]. Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung: Con chung Phan Quỳnh H, sinh ngày 27/4/2006 hiện đã trưởng thành không yêu cầu tòa án giải quyết. Giao các con chung Phan Thành H, sinh ngày 26/10/2016 và Phan Gia H, sinh ngày 27/10/2020 cho anh Phan Văn H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi các con chung đủ 18 tuổi, chị Trần Thị H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho anh Phan Văn H và có quyền lai lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

[3]. Về án phí: Anh Phan Văn H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí ly hôn đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) theo biên lai số 0006728 ngày 10/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

[4]. Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ